Được đầu tư cơ sở hạ tầng hiện đại, thu hút đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệp, hệ thống các trường dân lập đã song hành cùng hệ thống công lập đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội.
 
Nhiều sinh viên được học tập ở môi trường chất lượng cao trong hệ thống dân lập

Hơn 15% sinh viên được đào tạo từ các trường dân lập

Theo Ths. Bùi Xuân Biên (Học viện Tài chính), từ khi thực hiện xã hội hoá giáo dục, nhà nước cho phép các thành phần kinh tế đầu tư vào giáo dục, khuyến khích huy động mọi nguồn lực phát triển giáo dục, tình hình đã được cải thiện đáng kể: hệ thống các trường bán công, dân lập, tư thục đã được hình thành và phát triển rất nhanh để đáp ứng nhu cầu người dân ở tất cả các bậc đại học.

Cụ thể, trong khối các bậc học phổ thông, với sự phát triển của các trường ngoài công lập,  cùng với sự quan tâm và đầu tư ngày càng lớn của nhà nước cho giáo dục, những nhu cầu về chỗ học ở các bậc học phổ thông từ tiểu học, trung học cơ sở đến trung học phổ thông  về cơ bản đều được đáp ứng, đã có các trường ngoài công lập, các trường tư thục cũng ngày càng khẳng định vị thế của mình trong hệ thống giáo dục Việt Nam.

Cùng với các trường phổ thông, hệ thống các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề dân lập, cao đẳng và dạy nghề dân lập, tư thục, bán công cũng đã được hình thành và phát triển, giảm tải cho các trường công lập.

“Trước đây, mỗi mùa tuyển sinh đến là cả nước đi làm tuyển sinh, nhưng do các cơ sở đào tạo thiếu, yếu, quy mô nhỏ nên đã gây ra rất nhiều khó khăn, đau đầu cho cả nước và các trường đại học, cao đẳng và nhân dân. Hàng năm có vài triệu thí sinh thi tuyển vào các trường đại học, trong khi số lượng các trường ít, quy mô nhỏ, cơ sở vật chất thiếu thốn, nguồn vốn ngân sách dành cho giáo dục đại học, cao đẳng bị hạn chế, vì vậy số lượng chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường là rất hạn chế” – Ths Biên nhấn mạnh.

Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo tính đến năm 2014 cả nước đã có trên 160 trường đại học và 223 trường cao đẳng (trong đó có 50 trường đại học và 30 trường cao đẳng ngoài công lập) như vậy là đã có sự đầu tư lớn của các thành phần kinh tế khác vào để phát triển sự nghiệp giáo dục đại học ở VN.

Số lượng sinh viên hiện nay trong cả nước là 1.435.887 sinh viên đại học và 726.219 sinh viên cao đẳng. Trong đó sinh viên các trường đại học ngoài công lập là 189.531 và của các trường  cao đẳng dân lập là 144.390 sinh viên.

Số liệu trên cho thấy các trường ngoài công lập đã gánh cho nhà nước được 15,44% số lượng sinh viên cần phải đào tạo. Theo Ths Biên thì "điều này đặc biệt có ý nghĩa với nhà nước hiện nay, khi mà quy mô ngân sách mỏng, nhà nước đã tiết kiệm được một lượng vốn rất lớn để tập trung đầu tư cho các trường công lập, hoặc sử dụng cho những nhu cầu bức thiết khác".

Cánh chim đầu đàn triển khai mô hình xã hội hóa

Và trường ĐH Đông Đô được xem như là ví dụ điển hình. Được thành lập năm 1994 và là một trong những trường Đại học đầu tiên tại Việt Nam được thành lập theo chủ trương xã hội hóa giáo dục của nhà nước, trường Đại học Đông Đô đã nhanh chóng thể hiện được sự hòa nhập kịp thời với thực tiễn của nền giáo dục hiện đại khi khai thác và phát huy được tiềm năng của toàn dân và xã hội trong công tác giáo dục.

Do là một trong những trường đại học đầu tiên được thành lập theo chủ trương xã hội hóa giáo dục nên thời gian đầu Đại học Đông Đô gặp không ít khó khăn như cơ sở vật chất còn hạn chế, đội ngũ giảng viên cơ hữu chưa nhiều,… Tuy nhiên,  Đại học Đông Đô cũng có những thuận lợi như có sự hợp tác của đội ngũ giảng viên có trình độ cao từ các trường, các học viện ở Hà Nội tham gia công tác đào tạo.

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Xuất – Hiệu trường nhà trường thì Đại học Đông Đô từ khi thành lập đến nay, trường đã đào tạo được hơn 30.000 kỹ sư, cử nhân, kiến trúc sư có trình độ chuyên môn, đảm bảo chất lượng. Phần lớn sinh viên ra trường đã có việc làm.

Được biết, thời gian tới Ban lãnh đạo nhà trường sẽ tiếp tục thu hút thêm vốn đầu tư và các nguồn lực bên ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển. Đồng thời nhà trường cũng sẽ ký kết với các trường ĐH, CĐ của các nước có nền giáo dục phát triển như Ý, Thụy Sỹ, Nhật Bản,… để hợp tác, chuyển giao các chương trình đào tạo cho sinh viên Việt Nam. 

Việc hợp tác này được xem là cơ hội rất lớn đối với sinh viên đang theo học tại trường được tiếp cận với các chương trình đào tạo hiện đại và cơ hội nghề nghiệp vì hiện tại những quốc gia này đang cần rất nhiều nhân lực trẻ có tay nghề và trình độ.

N. Huyền