Trong bối cảnh căng thẳng gia tăng ở Biển Đông, Mỹ đã kêu gọi các đồng minh khu vực tích cực hơn nữa ủng hộ các hoạt động tự do hàng hải (FON) của Mỹ.

Với sự ủng hộ chính trị cho các hoạt động này, liệu Tokyo và Canberra có sẵn sàng biến sự ủng hộ của họ thành hành động trực tiếp hay không?

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe rõ ràng loại trừ khả năng của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (SDF) trực tiếp tham gia các hoạt động FON, mặc dù ông không phủ nhận SDF có thể sẽ được điều đến Biển Đông trong tương lai. Và trong khi Úc xem xét khả năng tự tiến hành FON, Chính quyền của Thủ tướng Malcolm Turnbull cho đến nay đã tránh khiêu khích Trung Quốc - đối tác thương mại hàng đầu của Úc - bằng cách mở rộng các hoạt động quân sự của mình trong khu vực. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa Nhật Bản và Úc thờ ơ, hay bỏ mặc những nỗ lực đơn phương của Mỹ trong giải quyết vấn đề ở Biển Đông. Thay vào đó, cả hai nước đã dần tăng cường sự can dự quốc phòng của họ với khu vực Đông Nam Á mà có thể gián tiếp hỗ trợ cho các FON của Mỹ. Chiến lược này dường như bao gồm ba yếu tố: tăng cường sự hiện diện của Nhật Bản và Úc, mở rộng quan hệ đối tác và xây dựng liên minh.

Các tàu chiến của hải quân Nhật Bản duyệt đội hình trên biển
Tàu sân bay trực thăng của Hải quân Nhật Bản

Đầu tiên, cả Nhật Bản và Úc đã thúc đẩy sự hiện diện của họ trong khu vực thông qua việc tăng cường tham gia các cuộc diễn tập quân sự song phương và ba bên, tuần tra và thăm cảng của các nước Đông Nam Á. Năm 2015, máy bay tuần tra P3C của Nhật Bản trên đường trở về đã ghé thăm Việt Nam hai lần sau các hoạt động chống cướp biển ở ngoài khơi Somalia. Nhật Bản cũng tiến hành cuộc tập trận trên biển và trên không song phương đầu tiên với Philippines trong năm 2015, và tìm kiếm và cứu hộ với Việt Nam vào tháng 2/2016. 

Tháng 4/2016, một chiếc tàu ngầm của Nhật Bản cùng với hai tàu khu trục đã đến thăm vịnh Subic của Philippines - chuyến thăm cảng đầu tiên của tàu ngầm Nhật Bản đến Philippines trong vòng 15 năm qua. Cũng trong tháng 4/2016, tàu khu trục của Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản (MSDF) đã đi qua vùng Biển Đông để tham gia các cuộc tập trận hải quân đa phương do Indonesia tổ chức, và hai tàu khu trục khác của MSDF đã lần đầu tiên đến Vịnh Cam Ranh của Việt Nam. Tương tự, Úc gần đây đã xem xét việc thúc đẩy cam kết quốc phòng với khu vực Đông Nam Á bằng cách điều máy bay P3C và tàu chiến tuần tra đi qua quần đảo Trường Sa. Trong dài hạn, Lực lượng Quốc phòng Úc nỗ lực nâng cao khả năng hàng hải nhằm củng cố sự hiện diện chiến lược của mình ở Biển Đông. Theo Sách Trắng Quốc phòng Úc 2016, việc bảo vệ khu vực gần Úc, bao gồm cả “hàng hải Đông Nam Á” hiện là ưu tiên cao thứ hai của nước này sau phòng thủ.

Thứ hai, cả Nhật Bản và Úc đã tăng cường quan hệ đối tác của họ với các nước Đông Nam Á thông qua việc xây dựng năng lực và hợp tác thiết bị quốc phòng. Nhật Bản không chỉ đồng ý cung cấp tàu tuần tra cho Philippines, mà còn đang xem xét chuyển giao máy bay huấn luyện TC-90 cho các hoạt động giám sát biển ở quần đảo Trường Sa. Nhật Bản đã tổ chức cuộc họp “2+2” đầu tiên với Indonesia vào tháng 12 năm ngoái và nhất trí đàm phán về chuyển giao thiết bị quốc phòng và công nghệ cho Jakarta. 

Úc đang âm thầm tăng cường quan hệ đối tác trên biển song phương với khu vực Đông Nam Á
Các tàu đổ bộ của Hải quân hoàng gia Úc

Trong khi đó, Canberra cũng đã âm thầm tăng cường quan hệ đối tác trên biển song phương với khu vực Đông Nam Á. Úc đã chuyển giao tàu Hải quan và Biên phòng (ACV) của mình cho cơ quan đối tác Malaysia hồi tháng 2/2015 và tặng hai tàu đổ bộ (LCHs) cho Philippines vào tháng 11/2015 (ba chiếc tàu khác được bán với giá hữu nghị vào tháng 3 năm nay). Ngoài ra, Úc còn nâng cấp hợp tác quốc phòng và an ninh với Việt Nam, hoàn tất “quan hệ đối tác chiến lược” với cả Singapore và Malaysia, và đang trong quá trình đổi mới Hiệp ước Quốc phòng với Indonesia để mở rộng giao lưu quốc phòng giữa hai nước.

Thứ ba, về quan hệ an ninh Nhật- Úc, cả hai quốc gia đã âm thầm thúc đẩy xây dựng các liên minh “lỏng lẻo” thông qua đối thoại chiến lược và diễn tập quân sự; chẳng hạn như cuộc họp cấp ngoại trưởng ba bên giữa Nhật Bản, Úc và Ấn Độ diễn ra vào tháng 6/2015 và tháng 2/2016. Tiếp sau đó, Nhật Bản đã tham gia cuộc tập trận Malabar giữa Mỹ- Ấn Độ và Úc cũng muốn được tham gia cuộc tập trận này vào cuối năm 2016. 

Một ví dụ khác là việc mở rộng thành viên của các cuộc diễn tập quân sự, chẳng hạn như cuộc tập trận Cope North mà ban đầu là cuộc tập trận song phương giữa Nhật Bản và Mỹ kể từ năm 1978, sau đó thành cuộc tập trận ba bên gồm Úc vào năm 2012 và hiện nay đã trở thành cuộc tập trận đa phương với cả Hàn Quốc, New Zealand và Philippines. Mỹ, Nhật Bản, Úc và các đối tác khác trong khu vực cũng đã nỗ lực thúc đẩy hợp tác giữa các cơ quan bảo vệ bờ biển, trong đó có khả năng sẽ thừa nhận sự hợp tác an ninh đa tầng cấp. 

Nhật Bản và Úc đã độc lập và cùng nhau tăng cường can dự quốc phòng với khu vực Đông Nam Á. Mặc dù sự tham gia trực tiếp hơn, chẳng hạn như các hoạt động tuần tra chung giữa Mỹ- Nhật Bản- Úc, có thể sẽ chưa sớm diễn ra, song những hoạt động này vẫn rất quan trọng trong việc thể hiện tinh thần đoàn kết đối với các hoạt động FON do Mỹ dẫn đầu và để bảo đảm cam kết quân sự của Mỹ đối với khu vực.

Tuy nhiên, sự hợp tác như vậy không phải là không có rủi ro. Trong khi can dự quốc phòng sẽ tăng cường năng lực trên biển cho một số quốc gia và làm thay đổi cán cân quyền lực bất đối xứng trong khu vực, thì sự bất đồng chính trị liên quan các vấn đề an ninh khu vực giữa các nước Đông Nam Á ven biển và lục địa sẽ gia tăng. Nhật Bản và Úc phải thận trọng cân bằng việc mở rộng các cam kết quốc phòng song phương trong khu vực biển Đông Nam Á với việc nâng cao hợp tác trong các thể chế an ninh đa phương toàn diện hơn ở khu vực. Để làm được như vậy, Nhật Bản, Úc và các nước khác trong khu vực nhất thiết phải có sự hợp tác và phối hợp thông tin tốt hơn.

Tác giả Tomohiko Satake là nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Quốc phòng, Tokyo. Bài viết đăng trên trang “East asia forum” (ngày 26/4).

Theo nghiencuubiendong.vn