40 năm cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc: Ai đã dạy ai bài học?

Cách đây tròn 40 năm, ngày 17/2/1979, Trung Quốc nổ súng tấn công các tỉnh biên giới phía Bắc nước ta, với giọng điệu “dạy cho Việt Nam một bài học”, nhưng cuối cùng, ai mới là người phải nhận bài học?

Có nhiều nguyên nhân của việc Trung Quốc định "dạy cho Việt Nam bài học", từ vụ “nạn kiều” đến việc Việt Nam không đi theo những quỹ đạo mà Trung Quốc mong muốn, như tiến quân vào Phnom Penh và giải phóng đất nước Campuchia khỏi ách cai trị của chế độ diệt chủng Khmer Đỏ - một liên minh thân thiết với Trung Quốc và được nước này bảo trợ.

Ngoài ra, việc Việt Nam tăng cường hợp tác với Liên Xô, trong đó đáng kể nhất là việc ký Hiệp định Hữu nghị và Hợp tác tháng 11/1978 đã khiến Trung Quốc khó chịu, và muốn có hành động nhằm thử thách thái độ của Liên Xô, đất nước hùng mạnh áp sát phía Bắc của Trung Quốc.

Lính Trung Quốc bị bắt làm tù binh.

Dù lãnh đạo Trung Quốc khi đó là Đặng Tiểu Bình đã “rào trước đón sau” là hoạt động quân sự của Trung Quốc sẽ “hạn chế không gian và thời gian”, nhưng rõ ràng họ đã đặt ra cho mình những mục tiêu quan trọng: Thử sức mạnh quân đội của họ sau nhiều năm không tham gia chiến tranh; “đo” sức mạnh của quân đội Việt Nam, đội quân vừa đánh thắng quân đội Mỹ, quân đội VNCH và quân đội Pol Pot; phá hủy cơ sở vật chất, hạ tầng kinh tế xã hội của Việt Nam.

Cuối cùng, sau cuộc tấn công chớp nhoáng, Trung Quốc đã đạt được mục tiêu thứ ba, để lại vết thương chiến tranh sâu sắc đối với nhân dân ta: Cả 6 tỉnh miền núi phía Bắc bị tàn phá, trong đó các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn, hàng chục nghìn người thiệt mạng và hàng vạn người mất nhà cửa, hoa màu bị phá hủy.

Vậy mục đích chính mà Trung Quốc đặt ra cho hành động gây hấn này có đạt được không?

Rõ ràng câu trả lời là không.

Việt Nam đã không để cho Trung Quốc có khả năng “dạy bảo”, và đã giáng cho lực lượng xâm lấn những đòn đau chí mạng.

Và chính Trung Quốc đã rút ra cho mình những bài học đắt giá sau hành động này.

Trước hết, họ biết rằng quân đội của họ không mạnh như họ ảo tưởng. Dù huy động tới trên 600.000 quân, với đầy đủ các lực lượng trang bị kỹ thuật, nhưng họ đã không đạt được các thắng lợi quân sự. Ngược lại, quân đội Trung Quốc đã hứng chịu những thất bại nặng nề, khi có tới 62.500 binh lính (chiếm tỷ lệ hơn 1/10 tổng số quân được huy động) bị loại khỏi vòng chiến đấu, các đơn vị lớn có tới 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn bị tiêu diệt, thiệt hại; 550 xe quân sự trong đó có 220 xe tăng, xe bọc thép (hơn một nửa số tham chiến) bị bắn cháy, 115 đại bác và súng cối hạng nặng bị phá hủy…

Giới phân tích nhận định, thay vì dạy cho Việt Nam một bài học, Trung Quốc đã học được bài học quân sự đắt giá của chính mình.

Xe tăng của quân đội Trung Quốc bị bắn cháy ở Cao Bằng tháng 2/1979.

Trung Quốc cũng nhận ra sự lạc hậu không chỉ phương pháp tác chiến mà còn ở vũ khí và trang thiết bị so với quân đội Việt Nam. Chính vì vậy, sau cuộc chiến này, Trung Quốc đã tăng cường đầu tư cho vũ khí và trang bị.

Thứ hai, họ hiểu được sức mạnh và sự thiện chiến của quân đội và các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Khi họ tấn công, hầu hết các đơn vị chủ lực của Việt Nam đang tham gia chiến đấu ở Campuchia, cả miền Bắc chỉ có một sư đoàn quân chủ lực.

Tại ở khu vực biên giới phía Bắc, khi đó Việt Nam chỉ có các đơn vị biên phòng, bộ đội địa phương, cùng các lực lượng dân quân, tự vệ, với tổng quân số khoảng 100.000 người, tỷ lệ chênh lệch chỉ bằng từ 1/3 đến 1/6 quân Trung Quốc. Tuy nhiên lực lượng này đã không những cầm chân và làm chậm bước tiến của quân Trung Quốc, mà còn gây cho họ những tổn thất to lớn. Ở nhiều chiến trường, quân đội Việt Nam đã lấy ít địch nhiều, thể hiện tinh thần kiên cường, bất khuất, khiến cho đối phương cũng phải kính nể.

Thứ ba, qua sự kiện này, họ hiểu được khả năng tác chiến linh hoạt của quân đội và các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Chúng ta đã lợi dụng triệt để các đặc điểm địa hình để thực thi chiến thuật du kích, tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu, bảo vệ tính mạng của nhân dân. Đặc biệt, sau khi đã thể hiện bước chân thần tốc trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân đội nhân dân Việt Nam đã tiếp tục tái hiện khả năng này khi đã điều động các sư đoàn chủ lực từ chiến trường Campuchia tức tốc lên biên giới phía Bắc, làm cân bằng cán cân quân sự, khiến quân Trung Quốc lập tức tuyên bố rút lui.

Tất nhiên, về phía Việt Nam, chúng ta cũng rút ra được những bài học cho riêng mình.

Đầu tiên là bài học cảnh giác. Trong cuộc tấn công của Trung Quốc tháng 2/1979, chúng ta đã bất ngờ và bị động. Chúng ta đã không có sự chuẩn bị chu đáo để chống đỡ một cuộc tấn công với quy mô lớn ở trên diện rộng như vậy. Công tác nắm tình hình đối phương của ta không tốt, khi không phát hiện ra việc họ điều động tới 28 sư đoàn chủ lực cùng 2 sư đoàn và nhiều trung đoàn, tiểu đoàn địa phương, biên phòng và dân binh, với sự chi viện của 7 trung đoàn và 1 tiểu đoàn xe tăng, 2 sư đoàn và 39 trung đoàn pháo binh, 2 sư đoàn phòng không và nhiều trung đoàn bảo đảm (công binh, thông tin, vận tải…).

Sau cuộc chiến đó, quân đội nhân dân Việt Nam quyết tâm không phạm phải sai lầm, để tổ quốc bị động hoặc bị đe dọa.

Cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc cũng giúp Việt Nam cũng tăng cường thực tiễn cho lý luận về thế trận chiến tranh nhân dân. Chính các lực lượng tự vệ, du kích bán vũ trang và cả nhân dân đã cùng các đơn vị biên phòng, bộ đội địa phương là những lực lượng đầu tiên ngăn chặn địch và lập những chiến công vang dội, gây thiệt hại nặng cho đối phương trước khi các đại đơn vị thiện chiến lên tham gia chiến đấu.

Tiếp theo là bài học về thế và lực. Việc Việt Nam nhanh chóng điều quân từ vùng đồng bằng lên vành đai biên giới, thành lập các đại đơn vị mới cấp quân đoàn, điều động kịp thời các lực lượng khí tài kỹ thuật lên chiến trường cũng như chuẩn cấp tốc toàn bộ Quân đoàn 2 ra Bắc đã nhanh chóng giúp chúng ta đủ “lực” để thiết lập thế cân bằng trên bàn cờ quân sự với đối phương. Đồng thời, lệnh Tổng động viên của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam cũng tạo cho chúng ta một nguồn lực dự trữ to lớn đặt cạnh bàn cờ mà Trung Quốc phải e dè. Trước cán cân mới này, quân đội Trung Quốc hiểu rằng họ có nguy cơ thất bại nhanh chóng về quân sự nên đã lập tức tuyên bố rút lui sau khi tuyên bố đã đạt được mục tiêu.

Cuối cùng là bài học về truyền thông. Với việc nhanh chóng cung cấp thông tin cho thế giới, mời các hãng thông tấn, báo chí nước ngoài trực tiếp chứng kiến sự tàn phá khủng khiếp mà quân Trung Quốc gây ra với hạ tầng kinh tế, xã hội và với nhân dân các tỉnh biên giới phía Bắc, chúng ta đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của dư luận quốc tế, một yếu tố quan trọng khác khiến Trung Quốc phải lui quân.

Cuộc xung đột biên giới phía Bắc chính thức không chỉ diễn ra trong hơn 20 ngày cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 1979 mà còn kéo dài lúc âm ỉ, lúc bùng lên trong suốt hơn 10 năm nữa, với nhiều bài học khác mà cả hai bên vẫn còn phải tiếp tục đúc kết.

TIN LIÊN QUAN
Lê Tiên Long
Tin cùng chuyên mục
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Đọc nhiều