Bộ trưởng Bộ KH&CN đối thoại trực tuyến với nhân dân

Nhiều vấn đề nóng như chất lượng xăng dầu, nguyên nhân cháy xe, điện hạt nhân, mũ bảo hiểm chất lượng kém... được đưa ra trong buổi đối thoại trực tuyến của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân với nhân dân tại Cổng TTĐT Chính phủ.

Bộ trưởng Bộ KH&CN đối thoại trực tuyến với nhân dân

Nhiều vấn đề nóng như chất lượng xăng dầu, nguyên nhân cháy xe, điện hạt nhân, mũ bảo hiểm chất lượng kém... được đưa ra trong buổi đối thoại trực tuyến của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân với nhân dân tại Cổng TTĐT Chính phủ.

Bộ trưởng Bộ KH&CN đối thoại trực tuyến với nhân dân

Bộ trưởng KH&CN Nguyễn Quân đối thoại trực tuyến với nhân dân.

Đây là hoạt động nhằm thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương tăng cường giao lưu trực tuyến, đối thoại trực tuyến trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ góp phần định hướng dư luận, tạo đồng thuận trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Cuộc đối thoại được truyền hình trực tuyến trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, được truyền hình trực tiếp trên kênh InvestTV (VCTV15) - Đài truyền hình Việt Nam; trên kênh VTC1 - Đài truyền hình kỹ thuật số VTC; được phát thanh trực tiếp trên hệ thời sự VOV1- Đài tiếng nói Việt Nam và thông tin rộng rãi trên nhiều phương tiện truyền thông khác để cung cấp thông tin tới các tầng lớp nhân dân trong nước, bà con Việt kiều, các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Bạn đọc tham gia đặt câu hỏi gửi về địa chỉ email doithoai@chinhphu.vn

Nguyễn Thanh Thảo, Trần Quốc Bình, phố Hoàng Văn Thái, Thanh Xuân; Lê Thanh, Phố Vĩnh Phúc, Ba Đình, Hà Nội hỏi: Thưa Bộ trưởng, Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 - 2020, chiến lược được kỳ vọng sẽ tạo ra sự chuyển biến rõ rệt trong hiệu quả của tổ chức, hoạt động và quản lý khoa học và công nghệ, xin Bộ trưởng có thể cho biết những điểm mới, điểm khác biệt cơ bản trong bản chiến lược này?

Bộ trưởng Nguyễn Quân: Ngày 11/4/2012, Thủ tướng đã ban hành Quyết định 418 phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020. Một số nội dung mới so với trước là:

Những mục tiêu cụ thể của chiến lược và một số giải pháp thúc đẩy KHCN VN. Cụ thể bao gồm, Đến năm 2020, khoa học và công nghệ góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và tái cấu trúc nền kinh tế, giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% GDP. Tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị đạt trên 20%/năm giai đoạn 2016 - 2020, Giá trị giao dịch của thị trường khoa học và công nghệ tăng trung bình 15 - 17%/năm. Trình độ phát triển KHCN, phấn đấu là 1 trong những nước có thứ hạng trong khu vực ASEAN. Số Số lượng công bố quốc tế từ các đề tài nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước tăng trung bình 15 - 20%/năm, tốc độ đăng ký sang chế giải pháp hữu ích tăng 1,5-2 lần sao với 5 năm trước. Phấn đấu tăng tổng đầu tư xã hội cho khoa học và công nghệ đạt trên 2% GDP vào năm 2020. Bảo đảm mức đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ không dưới 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm. Tăng cường tiềm lực KHCN, xây dựng 60 cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao…

Có hệ thống 5000 doanh nghiệp KHCN để đóng góp quan trọng cho tăng trưởng.

Đội ngũ KHCN đủ trình độ với tỷ lệ 11-12người/1 vạn dân vào 2020, hệ thống khoảng gần 2.000 tổ chức KHCN của NN và các thành phần kinh tế khác.

Chúng tôi hy vọng đến 2020, sẽ đạt trình độ nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Giải pháp thì có nhiều, nhưng quan trọng, mang tính đột phá là tăng cường tập trung đầu tư, nâng cao tiềm lực KHCN đất nước. Bên cạnh duy trì 2% tổng chi ngân sách, có biện pháp huy động, thu hút đầu tư xã hội, doanh nghiệp. Để đạt 2% tổng GDP quốc gia dành cho KHCN thì chắc chắn các doanh nghiệp phải đóng góp từ 3-4 lần mức chi của ngân sách NN, mức xã hội hoá đạt từ 3-4 lần sự quan tâm đầu tư của NN. Để làm được phải có nhiều giải pháp đồng bộ trong đó có chính sách khuyến khích, chế tài… để các doanh nghiệp, tổ chức dành một phần lợi nhuận cho quỹ phát triển KHCN của chính doanh nghiệp, hoặc của địa phương thì chúng ta mới có đủ nguồn lực để phát triển KHCN của đất nước.

BTV:Có ý kiến cho rằng, việc sử dụng ngân sách Nhà nước đầu tư cho KHCN chưa được sử dụng đúng cách, đặc biệt là đầu tư cho phát triển KHCN địa phương. Là người đứng đầu Bộ KHCN, quan điểm của ông về ý kiến này như thế nào?

Bộ trưởng Nguyễn Quân: Cảm ơn độc giả đã đặt câu hỏi rất chính xác, hiện nay mức chi cho KHCN chiếm 2% tổng chi ngân sách. Việc sử dụng nguồn kinh phí này chưa đạt hiệu quả cao, trong đó chủ yếu là do cơ chế phân bổ ngân sách, hàng năm chúng ta dành khoảng 42-43% kinh phí này cho đầu tư phát triển và bố trí cho các bộ, ngành, địa phương tuy nhiên do quy định của luật ngân sách, quy định của luật tổ chức HĐND, UBND phân cấp thẩm quyền cho địa phương nên nhiều địa phương và một số bộ, ngành sử dụng không đúng mục đích cho đầu tư phát triển KHCN.

Nhiều địa phương, bộ, ngành sử dụng kinh phí này xây trụ sở, làm đường xá, đắp đê thậm chí làm những việc không liên quan đến KHCN. Điều đó làm giảm hiệu quả đầu tư của Nhà nước dành cho phát triển tiềm lực KHCN của các bộ, ngành, địa phương. Phần kinh phí còn lại là kinh phí sự nghiệp khoa học thì rất nhiều bộ, ngành, địa phương, tổ chức sử dụng không hiệu quả thông qua việc sử dụng kinh phí sự nghiệp khoa học không dành cho khoa học như xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị quá nhiều, đầu tư cho những nhiệm vụ không xứng tầm và không đáp ứng được nhu cầu phát triển của bộ, ngành, địa phương; sản phẩm nghiên cứu ít được áp dụng trong thực tiễn.

Trong thời gian tới phải điều chỉnh mục tiêu này, làm sao Bộ KHCN có đủ thẩm quyền để đề xuất việc phân bổ kinh phí kể cả đầu tư phát triển vào sự nghiệp KHCN và trong Chiến lược phát triển KHCN đến 2020 Thủ tướng Chính phủ cũng chỉ đạo việc phân bổ kinh phí phải theo tiêu chí và hiệu quả hoạt động KHCN của các bộ, ngành địa phương, nơi nào làm tốt cần được đầu tư nhiều hơn, nơi nào làm không tốt thì sẽ bị cắt giảm nguồn đầu tư từ ngân sách.

BTV: Thưa ông, ngoài việc cắt giảm thì có chế tài nào dành cho các đơn vị sự nghiệp nào được phân bổ ngân sách dành cho phát triển KHCN nhưng sử dụng không đúng mục đích không?

Bộ trưởng Nguyễn Quân: Hiện nay theo quy định của pháp luật các địa phương được phân cấp nên kinh phí của Trung ương bố trí nên các địa phương toàn quyền phân bổ và sử dụng theo Nghị quyết của HĐND và UBND. Nếu có chế tài chúng tôi đã đề xuất trong Đề án đổi mới cơ bản toàn diện về KHCN đã trình Thủ tướng và đang đợi phê duyệt, đề xuất phải sửa luật có liên quan như Luật Ngân sách, Luật UBND, HĐND. Trên cơ sở đó, Bộ có vai trò giám sát, kiểm tra việc thực hiện sử dụng ngân sách KHCN ở địa phương, nơi nào sử dụng không hiệu quả thì Bộ có quyền can thiệp để năm sau Chính phủ sẽ giảm bớt thậm chí cắt giảm nguồn ngân sách cho địa phương đó.

Trần Xuân Trình - P7 - Q3 - TP. Hồ Chí Minh:Chất lượng nghiên cứu khoa học đang là vấn đề đáng phải suy ngẫm? Giải pháp nào của Bộ KHCN để đổi mới công tác xét chọn, đánh giá, nghiệm thu các đề tài NCKH góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu?

Bộ trưởng Nguyễn Quân: Về vấn đề này tôi đã có một số lần trao đổi với báo giới. Nhiều người nói hiệu quả đề tài không cao, nhiều đề tài xếp ngăn kéo. Tôi từng nói, các đề tài khoa học có những loại chắc chắn phải xếp ngăn kéo một thời gian như nghiên cứu cơ bản, phải sau 1 thời gian, chúng ta mới có thể đưa vào các chuỗi nghiên cứu tiếp tục. Trong thực tế chúng tôi cũng thấy, quả thực chất lượng nghiên cứu còn có vấn đề, biểu hiện công bố quốc tế của Việt Nam, đăng ký sáng chế của chúng ta còn thấp so với thế giới.

Một trong những nguyên nhân là quy trình thủ tục để tuyển chọn, xét chọn nghiệm thu đánh giá các đề tài, dự án nghiên cứu.

Do vậy trong đề án đổi mới cơ bản toàn diện và đồng bộ về tổ chức cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KHCN, chúng tôi đã kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ đổi mới cơ chế xác định và đánh giá các đề tài, dự án, chúng ta thường gọi là nhiệm vụ KHCN.

Trước đây xác định đề tài làm theo phương thức đề xuất từ cơ sở. Nhưng những đề xuất đó nhiều khi chưa bám sát thực tiễn phát triển kinh tế- xã hội và không được doanh nghiệp đón nhận.

Chúng tôi đang chuyển dần sang cơ chế đặt hàng. Nghĩa là, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương chủ động đặt hàng nhà khoa học. Khi đặt hàng thì theo nguyên tắc, ai đặt hàng người đó hỗ trợ kinh phí, chịu trách nhiệm tiếp nhận kết quả và đưa kết quả vào sản xuất kinh doanh. Cơ chế đã bắt đầu áp dụng từ 2011, chúng tôi sẽ tiếp tục cơ chế này.

Thứ 2, tiếp tục nâng cao chất lượng hội đồng đánh giá nghiệm thu cũng như hội đồng xác định nhiệm vụ, hội đồng tuyển chọn nhiệm vụ KHCN bằng việc xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên gia khoa học với tiêu chí cao,. Để những ai đáp ứng đủ tiêu chí mới được mời tham gia vào hội đồng. Trên cơ sở đó thì chúng tôi cho rằng, các kết luận của hội đồng sẽ có chất lượng cao hơn.

Chúng tôi hy vọng cùng các đổi mới khác về cơ chế tài chính, 5 năm tới hiệu quả của các đề tài, dự án sẽ được nâng cao rõ rệt.

Bộ trưởng Bộ KH&CN đối thoại trực tuyến với nhân dân

Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân

BTV: Nhiều bạn đọc thắc mắc, vấn đề tài chính trong khoa học đặc biệt là khâu thanh quyết toán hiện có nhiều rắc rối. Ông có giải pháp gì không?

Bộ trưởng Nguyễn Quân: Bạn đọc đặt câu hỏi đúng bức xúc của chúng tôi và giới khoa học nói chung. Nhiều người phàn nàn về việc thanh quyết toán quá rườm rà, thậm chí có người nói, thời gian dành cho thủ tục thanh quyết toán còn nhiều hơn nghiên cứu.

Trên cơ sở đó, chúng tôi đã nhận rõ những vấn đề trong thủ tục, do vậy trong đề án đổi mới chúng tôi đang trình Thủ tướng Chính phủ, chúng tôi đã đề xuất một số giải pháp.

Thứ nhất, kiến nghị việc cấp phép kinh phí cho nghiên cứu chuyển dần sang cơ chế quỹ. Hiện đã có quỹ phát triển KHCN quốc gia và sắp tới đưa vào hoạt động quỹ đổi mới CN quốc gia. Nếu cấp phép kinh phí từ quỹ, sẽ không bị cản trở bởi tư duy xây dựng kế hoạch và làm dự toán kinh phí là trước 1,5 năm như hiện nay.

Thứ 2, Thủ tục của quỹ đáp ứng nhu cầu tức thời khi các nhà khoa học được đặt hàng hoặc là đề xuất những nhiệm vụ cần thiết.

Thứ 3, quỹ không bắt buộc quyết toán theo năm tài chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học chỉ quyết toán 1 lần khi kết thúc dự án.

Vấn đề thứ 2, chúng tôi cũng đề nghị phối hợp với Bộ Tài chính bổ sung một số nội dung chi cần thiết để giúp nhà khoa học trong quá trình thực hiện đề tài dự án như thuê chuyên gia trong và ngoài nước, kinh phí hỗ trợ đăng ký sở hữu trí tuệ, kinh phí dự phòng bù cho tốc độ trược giá. Chúng tôi cũng đề nghị đơn giản hóa thủ tục thanh quyết toán, đưa vào hoạt động cơ chế khoán chi trong hoạt động KHCN và khoán chi đến sản phẩm cuối cùng. Những chi phí dành cho nhân lực trong quá trình nghiên cứu sẽ khoán cho nhà khoa học chủ trì đề tài, dự án.

Chúng tôi cũng đề nghị sửa định mức của thông tư 44 về định mức chi trong đề tài, dự án, nâng cao định mức cho phù hợp với hiện nay.

Chúng tôi cũng hy vọng với tất cả những đề xuất đó khi được Thủ tướng phê chuẩn, giới khoa học sẽ bớt lo phiền.

phan duc dung [phanducdung86@...com]:Nhà nước có khuyến khích, hỗ trợ tư nhân trong nghiên cứu KHCN không? (Vì dù là tư hay là công mà sản phẩm nghiên cứu hiệu quả thì đều vì đất nước mình cả).

Bộ trưởng Nguyễn Quân: Bạn hỏi một câu rất thú vị, rất nhiều người trong bộ máy của chúng ta vẫn hiểu rằng ngân sách Nhà nước chỉ chi cho các cơ quan của Nhà nước. Nhưng trong hoạt động KHCN nhiều năm nay chúng tôi kiên trì thuyết phục các bộ, ngành rằng NSNN là do người dân đóng thuế, người dân thì thuộc mọi thành phần kinh tế, không chỉ của Nhà nước vì thế Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ trở lại cho mọi thành phần kinh tế khi họ có ý tưởng sáng tạo, có nghiên cứu đem lại lợi ích cho xã hội.

Thực tế trong nhiều năm qua, Bộ KHCN đã thực hiện phương châm này, chúng tôi không chỉ hỗ trợ cho khu vực Nhà nước mà còn cho các tổ chức KHCN ngoài Nhà nước, thậm chí các tổ chức KHCN của tư nhân cũng có quyền bình đẳng trong việc tuyển chọn các nhiệm vụ KHCN ở cấp Nhà nước và các cấp khác. Đồng thời hỗ trợ cho DN tư nhân và DN của các thành phần kinh tế khác trong quá trình đổi mới KHCN.

Ngay từ năm 1999, Bộ đã trình Chính phủ ban hành Nghị định 119 hỗ trợ DN đổi mới CN. Nhiều DN đã phát triển và trở thành DN lớn nhờ những dự án đổi mới KHCN có sự hỗ trợ của nhà nước.

Trong những năm gần đây quá trình này đã được đẩy mạnh hơn. Điển hình là Xí nghiệp Cơ khí Quang Trung-Ninh Bình là một DN tư nhân, nhưng nhờ một số dự án, đề tài mà Bộ KHCN hỗ trợ theo NĐ 119 cũng như các chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước mà Xí nghiệp cơ khí Quang Trung -Ninh Bình trở thành một DN lớn đã có những sản phẩm lớn đóng góp to lớn cho sự phát triển của kinh tế xã hội ở các nhà máy đóng tàu, nhà máy Thủy điện Sơn La, nhà máy thủy điện Sê San, sắp tới là nhà máy Thủy điện Lai Châu.

Bản thân Giám đốc DN trở thành Anh hùng Lao động và được giải thưởng Hồ Chí Minh về KHCN, Xí nghiệp là tập thể Anh hùng Lao động.

Cho đến thời điểm hiện nay chúng tôi tiếp tục hỗ trợ rất nhiều DN khác cũng như các thành phần kinh tế và cá nhân nhà khoa học. Chúng ta thường nghe nói nhiều người nông dân, những nhà khoa học chân đất có sáng kiến cải tiến, Bộ KHCN trong nhiều năm qua đặc biệt quan tâm vấn đề này.

Chúng tôi giao cho Sở KHCN thường xuyên quan tâm hỗ trợ cho người nông dân có sáng kiến, khi tổ chức Chợ công nghệ và thiết bị (Tech Mart) chúng tôi đều mời những người nông dân có sáng kiến tham dự hội chợ giới thiệu sản phẩm của mình và sau đó các Sở KHCN có thể giúp họ hoàn thiện sản phẩm.

Nhiều người đã thành đạt khi thành lập DN để kinh doanh chính sản phẩm của mình. Chúng tôi cho rằng quan điểm của chúng tôi là đúng hướng. Vừa rồi khi Thủ tướng Chính phủ thăm Xí nghiệp Cơ khí Quang Trung-Ninh Bình đã chỉ đạo và chúng tôi thấy rằng chỉ đạo của Thủ tướng thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với vấn đề phát triển KHCN.

Bộ trưởng Bộ KH&CN đối thoại trực tuyến với nhân dân

The Ha Nguyet [thehsk196lac@...com] : Là một nhà khoa học tôi thấy kết luận ban đầu về nguyên nhân cháy, nổ xe như liên Bộ mới đưa ra là không thuyết phục vì không chỉ ra được nguyên nhân làm số vụ cháy nổ xe tăng đột biến gần đây? Tôi thấy các kết quả của các nhóm nghiên cứu này chỉ phản ánh các sự cố hy hữu mà bao năm qua vẫn tồn tại, trong khi đó chỉ trong vòng gần 2 năm rưỡi gần đây đã có 349 vụ cháy, nổ xe máy, ô tô xảy ra. Hiện nay chúng ta có dùng xăng A83 nữa đâu mà đưa vào nghiên cứu. Xin bộ trưởng cho biết ý kiến của mình về vấn đề này?

Bộ trưởng Nguyễn Quân: Về vấn đề cháy nổ xe cơ giới- vấn đề gây bức xúc xã hội trong thời gian gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo liên Bộ Công an, Giao thông vận tải, Khoa học và Công nghệ và Công Thương phối hợp xác minh nguyên nhân và đề xuất giải pháp hạn chế cháy nổ xe cơ giới.

Tất nhiên đây mới là kết quả bước đầu. Vừa rồi, Bộ Công an đã chủ trì cùng các Bộ tổ chức họp báo công bố bước đầu các kết quả điều tra về nguyên nhân gây cháy nổ. Có thể kết luận này chưa làm thoả mãn quan điểm của nhiều độc giả. Tuy nhiên, có thể nói, việc cháy nổ xe cơ giới không phải hiện tượng cá biệt của Việt Nam, tất cả các nước trên thế giới đều có hiện tượng này, chỉ khác nhau về mức độ. Có những nước tỷ lệ cháy nổ cao hơn chúng ta, nhưng cũng có nước thấp hơn.

Vừa rồi, tỷ lệ này ở nước ta tăng đột biến trong 2 năm 2010 và 2011. Cho nên, xã hội cũng rất bức xúc và yêu cầu Chính phủ phải làm thật rõ để có giải pháp ngăn chặn. Tôi cho rằng, xăng dầu được xã hội đặt vào vòng ngắm đầu tiên. Tuy nhiên, xăng dầu chỉ là chất cháy, để nó cháy được phải có tác động của nguồn nhiệt, cụ thể là phải có tia lửa. Vì vậy, khi xảy ra các vụ cháy nổ ô tô, xe máy, cơ quan công an cùng các bộ ngành liên quan đã tiến hành điều tra xác minh.

Chúng tôi đã yêu cầu Tổng cục Đo lường Chất lượng là cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng xăng dầu vào cuộc, lấy mẫu từ các xe bị cháy còn sót lại, lấy mẫu từ các cây xăng mà các xe này đã mua xăng theo khai báo của chủ xe để xét nghiệm. Tất cả các mẫu xét nghiệm này đều không vi phạm quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xăng dầu. Vì thế, có thể nói, kết luận bước đầu của Bộ Công an đánh giá nguyên nhân cháy nổ khoảng trên 30% do chập điện, trên 15% là do sự cố kỹ thuật khác, còn lại nhiều nguyên nhân như vô tình hữu ý của người sử dụng xe gây cháy hay những nguyên nhân do tai nạn…

Những lý do này có thể chưa làm thoả mãn độc giả. Ngày hôm qua tôi có trao đổi với 1 nhà khoa học có danh tiếng và nhà khoa học này có mấy ý kiến mà chúng ta cần phải nghiên cứu. Tôi cũng đề nghị các cơ quan điều tra cần phải đi theo hướng này. Đó là các vụ cháy nổ xảy ra thì xăng dầu tại thời điểm đó không phải là nguyên nhân trực tiếp nhưng rất có thể chất lượng xăng dầu của thời gian trước đó là nguyên nhân gián tiếp gây ra những sự cố này. Ví dụ trước đó nhiều tuần, nhiều tháng, thậm chí hàng năm, nếu như xe máy có sử dụng xăng dầu pha chất phụ gia mà gây hại như axeton có thể ăn mòn chi tiết động cơ, làm thủng bình chứa xăng, thủng đường ống dẫn bằng nhựa, làm thoái hoá gioăng đệm của động cơ dẫn tới rò rỉ xăng ở mức độ nghiêm trọng và trong quá trình vận chuyển trên đường, với ma sát của các bộ phận cơ khí với tia lửa của chập điện, rất dễ xảy ra cháy nổ. Tuy nhiên, khó khăn là chúng ta không thể điều tra, xét nghiệm lại các mẫu xăng dầu của giai đoạn trước vì đã được tiêu thụ hết.

Vì vậy chúng tôi cho rằng, song song với việc tiếp tục điều tra nguyên nhân gây cháy nổ, các bộ ngành phải kiểm soát thật chặt chẽ chất lượng xăng dầu kể từ thời điểm này cho tới giai đoạn tiếp theo để tránh xảy ra cháy nổ trong giai đoạn tới.

Về chất lượng xăng dầu, chúng tôi thời gian qua đã tăng cường kiểm soát. Hàng năm các sở KHCN, các chi cục tiêu chuẩn và chất lượng cùng các trung tâm kỹ thuật về tiêu chuẩn và chất lượng của chúng tôi thường xuyên thanh tra, kiểm tra, xử phạt và công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng những cây xăng, đại lý vi phạm về đo lường chất lượng xăng dầu.

Thường thì 3-4 năm, chúng tôi tổ chức thanh tra diện rộng toàn quốc về xăng dầu, thanh tra Bộ phối hợp với thanh tra của các sở cùng với cơ quan quản lý thị trường, công an kinh tế thanh tra diện rộng và mỗi đợt thanh tra diện rộng đó, chúng tôi kiểm tra toàn bộ mạng lưới phân phối và bán xăng dầu đồng thời xử phạt hang nghìn cây xăng có vi phạm về đo lường và chất lượng xăng dầu. Tổng số tiền phạt trong những đợt này thường dao động từ 3-5 tỷ đồng.

Tất nhiên mức phạt đó chưa đủ mạnh để răn đe. Gần đây với luật xử phạt vi phạm hành chính mới mức phạt đã tăng lên, chúng tôi hy vọng là đủ sức răn đe đối với các hành vi vi phạm về chất lượng xăng dầu.

Riêng đối với xăng A83, tôi xin đính chính, hiện nay chúng ta vẫn còn có 1 số phương tiện giao thông và một số lĩnh vực vẫn sử dụng xăng A83. Đặc biệt là trang thiết bị được sản xuất trong giai đoạn trước của các nước XHCN và Liên Xô cũ. Tỷ lệ không nhiều nhưng vẫn còn sản xuất và sử dụng A83. Các đối tượng vi phạm thường sử dụng xăng A83 với giá thành thấp pha trộn với các xăng khác hoặc bán với giá xăng A92, 95 để kiếm lợi. Khi phát hiện, thanh tra KHCN cùng các cơ quan chức năng xử phạt rất nghiêm minh. Chúng tôi đã trình Chính phủ cho phép chấm dứt sử dụng xăng A83 trong thời gian tới.

Bộ trưởng Bộ KH&CN đối thoại trực tuyến với nhân dân

Nguyen thu hang [hangvd2gmail.com]: Tình trạng người tiêu dùng bị các cây xăng "móc túi" cả về lượng và chất đã tồn tại nhiều năm nay nhưng việc xử lý còn lúng túng, chế tài xử phạt còn chưa nghiêm, vậy trách nhiệm của Bộ KHCN đến đâu? Bộ trưởng có biện pháp gì giải quyết dứt điểm tình trạng này không? Liệu có thể công bố công khai trên báo chí các cây xăng gian lận đã bị xử phạt để người dân “tẩy chay” không?

Bộ trưởng Nguyễn Quân: Việc xử lý các vi phạm về chất lượng xăng dầu phải theo quy định của pháp luật. Bộ đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, Luật tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, Luật Đo lường, trình Chính phủ ban hành các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực này, các mức xử phạt của các Nghị định này phải tuân thủ mức xử phạt chung của Nghị định xử phạt vi phạm hành chính.

Trước đây mức xử phạt không đủ răn đe với mức phạt rất thấp. Vừa rồi mức phạt được nâng lên tới 500 triệu đồng, trong trường hợp đặc biệt còn có các chế tài khác kèm theo.

Trong thực tế, trong các đợt thanh tra diện rộng về xăng dầu, chúng tôi ngoài xử phạt về hành chính đã kiến nghị Bộ Công Thương rút giấy phép kinh doanh nhiều đại lý xăng dầu vi phạm, vi phạm cả về đo lường (đong thiếu cho khách hàng), về chất lượng (cho thêm tạp chất khác như nước, axêton, dầu hỏa, methanole… vào trong xăng dầu để kiếm lợi).

Đã có nhiều cây xăng bị thu hồi vĩnh viễn nếu vi phạm nghiêm trọng. Tất nhiên có cây xăng chỉ bị thu hồi một thời gian, điều này cũng nằm trong quy định của pháp luật nếu mức vi phạm không đủ nghiêm trọng. Hoặc doanh nghiệp có thể bị giải thể sau đó thành lập doanh nghiệp mới lại được quyền đăng ký kinh doanh thì cũng không thể loại trừ.

Tuy nhiên chúng tôi cũng thống nhất rằng phải tăng cường kiểm soát chất lượng xăng dầu, nâng mức xử phạt đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tính răn đe của pháp luật.

BTV:Thưa Bộ trưởng, Bộ trưởng nghĩ sao về tình trạng một số doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí có doanh nghiệp lớn quốc doanh vẫn nhập dàn thiết bị máy móc các nước tiên tiến không dùng từ lâu. Theo ông, tình trạng này trong vài năm tới sẽ xử lý thế nào?

Bộ trưởng Nguyễn Quân: Chúng ta đều biết để đổi mới CN, các doanh nghiệp phải hoặc thông qua con đường nghiên cứu, tự nghiên cứu, ứng dụng CN mới hoặc nhập khẩu CN hoặc nhập khẩu thiết bị chứa CN để tạo ra sản phẩm mới.

Đúng như bạn vừa đề cập, chúng tôi thấy nhiều doanh nghiệp hiện nay có xu hướng thích nhập công nghệ của nước ngoài, thường là nhập thiết bị toàn bộ, và khi nhập thì thường nhập CN cũ và lạc hậu. Điều này cũng xuất phát từ nguyên nhân, một là như tôi đã nói, thị trường CN của chúng ta còn manh nha, doanh nghiệp rất thiếu thông tin về nguồn CN trong nước, các nhà khoa học không nắm rõ nhu cầu CN của doanh nghiệp.

Thứ 2, tiềm lực doanh nghiệp còn non yếu, chúng ta không đủ kinh phí, tiền để mua được thiết bị, công nghệ mới, hiện đại.

Thứ 3, trình độ CN chung của nước ta còn thấp. Theo đánh giá của chúng tôi qua khảo sát, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay đang sử dụng CN lạc hậu của thập kỷ 60, 70. Rất ít doanh nghiệp sử dụng CN của thập kỷ 80, 90, chỉ có một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì sử dụng CN của những thập kỷ gần đây.

Do vậy, nếu chúng ta nhập CN mới và hiện đại, nhiều khi không phù hợp với trình độ CN chung của hệ thống. Thêm nữa, các địa phương khi phê duyệt dự án đầu tư kể cả doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, thường không tham khảo ý kiến của các nhà khoa học, Sở KHCN, cho nên không đánh giá được trình độ CN của dự án hay dây chuyền thiết bị được nhập khẩu.

Chỉ đến khi những dây chuyền thiết bị này hoạt động gây ô nhiễm môi trường, không hiệu quả lúc ấy người ta mới nhớ đến các nhà khoa học. Nhưng các nhà khoa học lúc ấy chỉ có thể đề xuất biện pháp để xử lý chứ không thể khắc phục những hậu quả của những thiết bị , CN này đã gây ra.

Cho nên, chúng tôi cho rằng, các địa phương, bộ, ngành khi nhập khẩu trang thiết bị có liên quan tới CN nên tham khảo ý kiến của các nhà KH, các hội đồng KH và các cơ quan có trình độ đánh giá trình độ CN của các dây chuyền này để khi đưa vào sản xuất, chúng ta không hối tiếc vì đã nhập CN.

Hơn nữa nhà nước cũng nên hỗ trợ cho các DN để họ có thể nhập khẩu được CN thay vì nhập khẩu thiết bị toàn bộ bởi năng lực chế tạo thiết bị của chúng ta không phải là không có.

Chúng ta có đủ năng lực để chế tạo thiết bị có trình độ CN cao, nhưng cái thiếu của chúng ta là CN và bí quyết CN của những thiết bị này. Do vậy, thay vì chúng ta nhập khẩu cả 1 nhà máy hay dây chuyền thiết bị lớn, hãy hỗ trợ doanh nghiệp mua CN, thuê chuyên gia và sau đó đặt hàng các doanh nghiệp trong nước chế tạo những thiết bị đồng bộ hay dây chuyền sản xuất có hiệu quả cao hơn và cũng không đến nỗi ở trình độ KHCN quá thấp kém.

Bộ trưởng Bộ KH&CN đối thoại trực tuyến với nhân dân

Dang Nguyen [dangn_thanh65i@...com.vn]: Trước sức ép về dân số và biến đổi khí hậu thì nhiều nước trên thế giới đã cho phép trồng đại trà nhiều loại cây biến đổi gene. Xin Bộ trưởng cho biết chủ trương này ở nước ta thế nào? Hiện nay chúng ta đã có quy định về quản lý sản phẩm biến đổi gene chưa và cơ quan nào chịu trách nhiệm giám sát?

Bộ trưởng Nguyễn Quân: Đây là câu chuyện dài, hiện nay có 2 luồng ý kiến trái chiều kể cả trong giới khoa học và giới quản lý, nhiều người ủng hộ, nhiều người phản đối. Các nước trên thế giới cũng như vậy, các nước châu Âu phản đối các sản phẩm biến đổi gen, đặc biệt là thực phẩm dành cho con người. Nhưng Hoa Kỳ và một số nước khác lại rất ủng hộ.

Việc sử dụng cây trồng biến đổi gen ở VN, theo tôi, phải hết sức thận trọng. Hiện nay một số tập đoàn đa quốc gia đang mong muốn đưa vào VN những cây trồng biến đổi gen. Nhưng các cơ quan quản lý của VN trong đó có Bộ KHCN, Bộ NN&PTNT đề xuất với Chính phủ phải có một giai đoạn khảo nghiệm hết sức thận trọng.

Hiện nay chỉ cho phép sử dụng một cách hạn chế với 3 loại cây trồng là bông, đỗ tương, ngô. Đỗ tương và ngô trước mắt chỉ phục vụ cho thức ăn chăn nuôi và dầu công nghiệp, chưa trực tiếp đưa vào nguồn thực phẩm dành cho con người.

Thực tế những giống ngô biến đổi gene mà chúng ta đang khảo nghiệm có năng suất rất cao và có khả năng chống chịu dịch bệnh. Trong bối cảnh sức ép về gia tăng dân số, về công nghiệp hóa, đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp càng ngày càng thu hẹp, dân số càng ngày càng tăng thì việc nâng cao năng suất, chất lượng của cây trồng đặc biệt có ý nghĩa.

Vì thế chúng ta phải áp dụng mọi biện pháp để nâng cao năng suất cây trồng và nâng cao chất lượng lương thực thực phẩm, đảm bảo an ninh lương thực và an ninh năng lượng.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng đề nghị Bộ NN&PTNT, các cơ quan khoa học phải có giai đoạn khảo nghiệm thật thận trọng, khi nào có kết luận thật xác đáng là những sản phẩm cây trồng biến đổi gen không gây hại với sức khỏe con người, không gây ô nhiễm môi trường thì chúng ta mới có thể cho sử dụng đại trà.

Hiện nay chúng ta đang khảo nghiệm với cây ngô, bông, một phần với cây đỗ tương. Chúng tôi sẽ hợp tác chặt chẽ với Bộ NN&PTNT. Hiện nay, Chính phủ giao cho Bộ NN&PTNT chủ trì phối hợp với nhiều bộ, ngành liên quan trong đó có Bộ KHCN.

Các văn bản về quản lý cây trồng biến đổi gen đã được các bộ, ngành ban hành, có các thông tư, nghị định và đặc biệt là có Luật đa dạng sinh học trong đó có đề cập nhiều điều khoản liên quan đến sinh vật biến đổi gene nói chung và cây trồng biến đổi gene nói riêng.

Chúng tôi hy vọng với sự thận trọng đó của các cơ quan quản lý thì tác hại của cây trồng biến đổi gene đối với nền kinh tế sẽ được hạn chế tối đa.

Huy Vo Hung [hungkiem.tr71l@...com.vn]:Có quan điểm cho rằng, Nhà máy điện hạt nhân chỉ dành cho các nước phát triển, một phần bởi trình độ KHCN của chính họ. Việt Nam là quốc gia đang phát triển, chưa có khả năng hội đủ điều kiện để phát triển lĩnh vực này. Nhận định của ông về vấn đề này?

Bộ trưởng Nguyễn Quân: Ý kiến đó không hoàn toàn đúng, vì trong số 31 quốc gia đang có nhà máy điện hạt nhân không phải đều là nước phát triển, có nhiều nước đang phát triển cũng tính đến xây dựng nhà máy điện hạt nhân cho mình. Ví dụ Bangladesh hay là một vài nước khác, kể cả các nước trong khu vực ASEAN như Thái Lan, Indonesia.

Ở đây vấn đề là để đảm bảo an ninh năng lượng, đáp ứng được sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì nhu cầu năng lượng của chúng ta theo tổng sơ đồ điện 7 là rất lớn trong khi các nguồn năng lượng hóa thạch và tái tạo của chúng ta cho đến thời điểm này không đáp ứng được.

Chúng ta đều biết dầu mỏ của chúng ta hiện nay mới đáp ứng được nửa nhu cầu, vẫn phải nhập khẩu. Than trong quá khứ xuất khẩu với tốc độ rất nhanh, nhưng từ năm 2011 bắt đầu phải nhập khẩu than, đến năm 2020 lượng than nhập khẩu còn lớn hơn lượng than sản xuất ra.

Năng lượng mới và tái tạo đều được quan tâm nghiên cứu và phát triển như năng lượng gió, mặt trời, sóng biển, địa nhiệt. Nhưng các nhà máy sử dụng năng lượng tái tạo quy mô rất nhỏ, vừa qua nhà máy điện gió ở Bình Thuận đi vào hoạt động thì tổng công suất mới chỉ trên 30MW, giá thành của năng lượng mới cho đến nay còn rất cao, đối với người dân không chịu được giá của nhà máy điện gió và năng lượng mặt trời.

Trong thời gian từ nay đến năm 2020, chúng ta cũng chưa nhìn thấy công nghệ để sản xuất điện thay thế được nguồn năng lượng cổ điển như than, dầu, khí thiên nhiên và hạt nhân. Vì thế chúng ta vẫn phải nghĩ đến phát triển nhà máy điện hạt nhân cho đến khi thế giới tìm thấy được điện hạt nhân.

Mặc dù trình độ công nghệ còn ở mức khiêm tốn, tiềm lực kinh tế còn khó khăn nhưng nếu không giải quyết được bài toán về nguồn năng lượng điện cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội thì đến năm 2020 Việt Nam không thể trở thành một nước công nghiệp hiện đại như chúng ta mong muốn.

Vì vậy, chúng tôi vẫn kiên trì theo đuổi phát triển điện hạn nhân và hy vọng sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, hy vọng vào trí tuệ của người Việt Nam và tâm huyết của đội ngũ cán bộ KHCN trong ngành năng lượng hạt nhân thì chúng ta có đủ điều kiện làm chủ được công nghệ và làm chủ được nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của chúng ta phát điện sau năm 2020.

BTV:Có quan điểm cho rằng, phát triển điện hạt nhân hiện nay là rất nguy hiểm (qua các sự cố tại Nga và Nhật), các nước phát triển đang “bỏ” nguồn năng lượng này để chuyển sang phát triển nguồn năng lượng sạch, an toàn hơn. Tại sao Việt Nam không ‘đi tắt, đón đầu” như các nước phát triển đang làm?

Bộ trưởng Nguyễn Quân: Ý kiến này cũng có phần đúng. Sau sự cố Chernobyn năm 1987, rất nhiều quốc gia phát triển đã dừng hoặc huỷ bỏ chương trình điện hạt nhân của họ. Nhưng sau một thời gian thì người ta lại thấy rằng, vẫn chưa có con đường đi nào khác, họ lại tái khởi động chương trình điện hạt nhân, kể cả các nước châu Âu.

Vừa rồi năm 2011, sau sự cố Fukushima, các quốc gia này lại một lần nữa giật mình và lại dừng chương trình điện hạt nhân, kể cả Nhật Bản là một nước có 54 lò phản ứng hạt nhân đang hoạt động, theo thông tin báo chí, hôm qua đã đóng cửa lò phản ứng hạt nhân cuối cùng.

Nhưng tôi biết rằng, có rất nhiều xu hướng, kể cả tại Nhật Bản vẫn có kiến nghị sau khi nâng cấp mức độ an toàn thì tái khởi động các nhà máy hạt nhân này. Trên thực tế nhiều quốc gia phát triển tiếp tục chương trình điện hạt nhân của họ. Muốn bỏ qua giai đoạn phát triển điện hạt nhân, nhưng chúng ta chưa nhìn thấy nguồn năng lượng nào khác có thể thay thế nó.

Như tôi đã nói, dầu và than của chúng ta đang cạn kiệt, năng lượng mới, công nghệ mới chỉ là sản xuất nhỏ và giá thành rất cao, không đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước ta trong giai đoạn tới. Vì thế, tại các nước phát triển, điện hạt nhân có thể chỉ chiếm tỷ trọng không lớn, họ có thể đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân và tìm các nguồn năng lượng khác thay thế, họ có thể có đủ tiền để mua dầu mỏ từ Trung Đông, mua than từ các quốc gia khác, mua khí thiên nhiên từ Nga, nhưng với chúng ta, tất cả những yếu tố đó đều là bài toán chưa thể giải đáp.

Chúng ta không đủ tiền nhập nguồn nguyên liệu hoá thạch với giá ngày càng cao. Chúng ta cũng chưa có công nghệ sản xuất điện từ năng lượng tái tạo như mặt trời, gió, thuỷ triều. Nếu chúng ta làm điện hạt nhân hiện nay, chúng ta có thể sử dụng được nguồn ODA của các nước phát triển.

Trong một chừng mực nào đó, nếu như không có những sự cố khủng khiếp như thảm hoạ kép động đất, sóng thần thì các nhà máy điện hạt nhân có thể nói là an toàn và kinh tế hơn so với các nhà máy điện khác.

Các nhà máy điện dùng nguồn nhiên liệu hoá thạch thải ra lượng khí nhà kính khổng lồ, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Các nhà máy thuỷ điện cũng tương tự như vậy, các hồ chứa cũng gây rất nhiều hệ luỵ về môi trường. Chúng ta cũng không còn nguồn tiềm năng để làm thuỷ điện. Nhà máy thuỷ điện Lai Châu chắc là nhà máy thuỷ điện lớn cuối cùng của chúng ta.

Vì vậy, chúng ta không tránh khỏi việc sử dụng điện hạt nhân. Vấn đề ở chỗ, chúng ta yêu cầu các đối tác phải nâng mức độ an toàn lên cao hơn, và trong quá trình khảo sát địa điểm xây dựng nhà máy, chúng ta cũng phải thận trọng hơn.

Nhưng tất cả những yếu tố đó đều làm cho giá thành của nhà máy điện hạt nhân cao hơn rất nhiều so với mức dự toán ban đầu. Và vì vậy, chúng ta lại càng phải tính toán một cách thận trọng hơn cho việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân tiếp theo. Hy vọng trong tương lai, chúng ta có công nghệ khác, nguồn năng lượng khác thì không phải tiếp tục phát triển điện hạt nhân.

Bộ trưởng Bộ KH&CN đối thoại trực tuyến với nhân dân

Bùi Quốc Huy, Chùa láng – Láng thượng – Đống đa - Hà Nội:

Như ông nói điện hạt nhân rất cần các chuyên gia giỏi, tuy nhiên nhà máy ĐHN đầu tiên sẽ được khởi công trong năm 2014 và chính thức phát điện vào năm 2020. Theo ông, chúng ta có đảm bảo được nhân lực cho nhà máy ĐHN khi nhà máy vận hành?

Bộ trưởng Nguyễn Quân: Tôi rất lo lắng về nguồn nhân lực cho điện hạt nhân, nếu không có chính sách phù hợp mang tính đột phá thì chắc chắn sẽ không chuẩn bị được đội ngũ cán bộ, cán nhà khoa học, kỹ thuật viên, công nhân có đủ trình độ để vận hành nhà máy.

Mặc dù chúng ta đang có lợi thế là đội ngũ cán bộ KHCN trong lĩnh vực hạt nhân tương đối mạnh, là kết quả của quá trình đào tạo trong nhiều năm khi chúng ta còn mối quan hệ tốt đẹp với các nước Đông Âu và Liên Xô cũ và sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về vấn đề này trong thời gian đó. Tuy nhiên đội ngũ này bắt đầu có tuổi, chúng ta cần đào tạo cán bộ trẻ tiếp cận với công nghệ mới với tri thức khoa học mới về công nghệ hạt nhân.

Trong những năm qua chúng ta đã gửi đi đào tạo ở các nước phát triển như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nga, Pháp, Ấn Độ rất nhiều cán bộ khoa học trẻ cũng như đã cử cán bộ khoa học có trình độ đi bồi dưỡng nâng cao ở các nước này. Tuy nhiên để thu hút cán bộ trẻ ở lĩnh vực này phải có chính sách đãi ngộ thỏa đáng vì đây là lĩnh vực rất vất vả và phải chịu đựng rủi ro trong suốt cả cuộc đời khi làm việc về năng lượng nguyên tử.

Nếu chúng ta không kịp thời công bố, công khai chế độ đối với những người đi học về năng lượng hạt nhân, công nghệ hạt nhân cũng như công khai chế độ đối với những người sẽ làm việc trong nhà máy điện hạt nhân và các cơ sở nghiên cứu trong nhà máy điện hạt nhân thì chắc chắn không thu hút được những người giỏi vào làm việc trong lĩnh năng lượng hạt nhân nói chung cũng như nhà máy điện hạt nhân nói riêng.

Chính phủ đã có một chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho điện hạt nhân trong đó dành khoảng 2.000 tỷ đồng từ ngân sách Nhà nước để đào tạo cán bộ khoa học trong lĩnh vực này từ trình độ cao đẳng, đại học đến trên đại học cũng như đào tạo chuyên gia cho các lĩnh vực khác nhau. Đồng thời yêu cầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam dành khoảng 1.000 tỷ đồng từ ngân sách của Tập đoàn để đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân vận hành nhà máy điện hạt nhân.

Tuy nhiên tôi cho rằng nguồn kinh phí chỉ có thể phát huy hiệu quả nếu chúng ta có chính sách đãi ngộ phù hợp, có thể dành ra hàng chục USD để xây dựng điện hạt nhân thì chúng ta nên dành một tỷ lệ thích đáng để đào tạo và đãi ngộ đội ngũ cán bộ làm việc trong lĩnh vực này. Có như thế chúng ta mới đảm bảo được sự an toàn cũng như hiệu quả hoạt động của điện hạt nhân trong tương lai.

Bộ trưởng Bộ KH&CN đối thoại trực tuyến với nhân dân

Nguyen thu nguyet (thu.nguyetnbtu@...com): Mới đây, trong nội dung của dự thảo thông tư liên tịch mà liên Bộ Khoa học công nghệ, Công Thương, Giao thông vận tải và Công an đang xây dựng đã quy định: “Người điều khiển xe mô tô, gắn máy đội mũ bảo hiểm thời trang, mũ nhái mà không có tem CR hợp chuẩn sẽ bị xử phạt như mức không đội mũ bảo hiểm”. Thưa Bộ trưởng đây có phải việc làm khi cơ quan chức năng khó kiểm tra, kiểm soát và xử lý thì “đổ khó” cho người dân?

Bộ trưởng Nguyễn Quân: Về vấn đề mũ bảo hiểm chúng tôi đã nhiều lần trao đổi với báo giới. Chính phủ đã quy định, người tham gia giao thông phải đổi mũ bảo hiểm đảm bảo tính năng kỹ thuật theo quy chuẩn do nhà nước quy định.

Tuy nhiên, thực tế, nhiều người đội mũ không đúng quy chuẩn. Hay nói cách khác, đội mũ chỉ để đối phó với công an, không phải để bảo vệ đầu của mình cũng như vì sức khoẻ của cộng đồng. Về quản lý chất lượng mũ bảo hiểm, chúng tôi đã ban hành đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, thông tư. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng đội mũ không đúng quy định vẫn diễn ra. Các nhà sản xuất vì trục lợi và người tiêu dùng vì ham rẻ nên vẫn sản xuất và mua bán các loại mũ không phải là mũ bảo hiểm.

Tất nhiên, những loại mũ này rất rẻ tiền và bày bán tràn lan, rất dễ mua. Nếu như nói rằng, những người đội mũ rởm, mũ nhái không có tem, bị xử phạt thì coi là cơ quan nhà nước không quản lý được, đổ khó cho người dân thì tôi cho không hẳn như thế.

Thực tế chúng ta quản lý việc này rất chặt chẽ. Tất cả các doanh nghiệp nhập khẩu và sản xuất mũ bảo hiểm đều phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước và đem mẫu đến để thử nghiệm ở các trung tâm tiêu chuẩn kỹ thuật của Bộ KHCN cũng như của các địa phương. Khi đạt được tiêu chuẩn, đều được dán nhãn (tem CR) và được lưu thông. Chúng tôi cũng yêu cầu tất cả các công ty sản xuất và nhập khẩu phải niêm yết công khai danh mục các đại lý mà kinh doanh mũ bảo hiểm của mình cho người dân biết để không mua phải mũ rởm. Vấn đề còn lại là người dân có chịu đến mua ở những đại lý bán mũ tốt và có đăng ký hay không?

Những người sản xuất mũ rởm lách luật bằng cách nói rằng, đấy không phải là mũ bảo hiểm, người ta bán cho người đi bộ, tập thể dục, đi xe đạp và như thế cơ quan chức năng không thể xử lý được.

Luật của chúng ta không cấm kinh doanh mũ dành cho người đi xe đạp, người đi bộ. Trong khi người ta lại dùng mũ đó để đi xe máy. Nếu các cơ quan quản lý phát hiện, cảnh sát giao thông phát hiện, thì hoàn toàn có thể xử phạt, nhưng người ta sẽ lại lý sự rằng, tôi không biết mũ này không dành cho người đi xe máy.

Tôi rất ủng hộ thành phố Đà Nẵng vừa qua bán mũ đảm bảo chất lượng tốt, giá rẻ (50.000 đồng) để người dân được đổi mũ cũ lấy mũ mới, đổi mũ rởm lấy mũ thật. Đây cũng là biện pháp hỗ trợ người dân bởi nếu mua mũ 200-300.000 đ, họ thấy không phù hợp với điều kiện kinh tế của họ. Nhưng nếu mua mũ thật, chỉ có giá 50.000 thì họ hưởng ứng. Hơn nữa, lãnh đạo thành phố Đà Nẵng cũng yêu cầu các cơ quan chức năng cung cấp máy thử nghiệm tại chỗ, mũ nào không đạt yêu cầu thì phá huỷ tại chỗ. Sau đó, bán lại cho người điều khiển phương tiện mũ bảo hiểm đạt yêu cầu với giá chỉ 50.000 đồng.

Tôi không biết các tỉnh thành phố khác có thể học tập Đà Nẵng được không vì ngân sách của TP, tỉnh phải hỗ trợ rất lớn. Tuy nhiên, chúng tôi cũng khuyến cáo nhân dân không nên tham rẻ, mua mũ bảo hiểm kém chất lượng bày bán ở các đại lý không được uỷ quyền và mua mũ chỉ để đối phó với cảnh sát giao thông.

Hơn ai hết, chúng ta phải ý thức được, đội mũ là để bảo vệ chính mình. Chúng tôi, bên cạnh việc siết chặt việc quản lý chất lượng mũ, yêu cầu các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu mũ công khai niêm yết toàn bộ đại lý bán sản phẩm của mình, đăng ký chất lượng với cơ quan nhà nước thì cũng mong nhân dân nâng cao tinh thần tự giác mua mũ đảm bảo điều kiện kỹ thuật ở những đại lý đã được uỷ quyền của các doanh nghiệp sản xuất có uy tín.

khoi van dinh [phladongtu.11@...com]: Trong những năm gần đây, vấn đề chất lượng và tiêu chuẩn hàng hóa đủ mọi cấp độ, thành phần trở thành đề tài được xã hội rất quan tâm. Theo ông vì sao lại như vậy và điều đó nói lên vấn đề gì của Việt Nam hiện nay?

Bộ trưởng Nguyễn Quân: Vấn đề này phản ánh rất rõ xu hướng phát triển của VN. Nếu như trước đây trong giai đoạn bao cấp, hàng hóa sản xuất không đủ dùng, người dân phải dùng mọi thứ hàng hóa, kể cả hàng hóa chất lượng thấp. Nhưng ngày nay nền kinh tế của chúng ta đã phát triển, người dân có quyền lựa chọn những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, mẫu mã đẹp.

Hơn nữa chúng ta đã gia nhập WTO, tham gia sân chơi chung với thế giới, sản phẩm hàng hóa của VN không thể tồn tại được nếu không đáp ứng được tiêu chuẩn và chất lượng chung của thế giới, không thể cạnh tranh được với hàng hóa của nước ngoài.

Vì thế, tôi cho rằng thái độ của người dân quan tâm đến chất lượng của sản phẩm hàng hóa là điều đương nhiên và đáng mừng. Người dân có thể không chấp nhận những hàng hóa có chất lượng thấp, mẫu mã xấu, giá thành cao và có quyền lựa chọn buộc DN, buộc nền kinh tế đáp ứng nhu cầu của họ.

Theo tôi đây là xu hướng đáng khích lệ, là xu hướng lành mạnh để Việt Nam phát triển hơn nữa. Vì chúng ta không thể phát triển được nếu như người dân vẫn chấp nhận hàng hóa như thời bao cấp, chấp nhận mua lốp loại 2, mua 5 nan hoa thay vì mua cả bộ nan hoa của xe đạp…

Do đó, chúng tôi đồng tình với ý kiến độc giả là xu hướng người dân quan tâm đến chất lượng của sản phẩm hàng hóa kể cả vệ sinh an toàn sản phẩm là xu hướng đáng trân trọng và tất yếu trong cơ chế thị trường của chúng ta.

Theo Cổng TTĐT Chính phủ

Theo Cổng TTĐT Chính phủ
loading...
Loading...
Tin cùng chuyên mục
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Đọc nhiều