Căng thẳng biển Đông và kinh tế: "Với Trung Quốc phải biết cách chơi"

Trong trung - dài hạn Trung Quốc là thách thức về mặt kinh tế, không chỉ với Việt Nam mà tất cả các nước. Cái chính là biết cách ... chơi như thế nào.

Chia sẻ với Infonet, TS. Võ Trí Thành khẳng định như vậy.

Nhập siêu lớn sẽ giảm dần

“Có gì trong nhà bạn không “dính” tới đồ Trung Quốc không? Trả lời câu hỏi này thì bạn sẽ biết chúng ta phụ thuộc vào Trung Quốc như thế nào”- là câu hỏi ngược trở lại của một vị chuyên gia kinh tế khi PV Infonet đặt vấn đề chuyện, nền kinh tế bị ảnh hưởng gì và sẽ chống đỡ ra sao nếu tình hình căng thẳng ở biển Đông vẫn tái diễn căng thẳng.

Vị này nói thẳng, lâu nay ông cũng như rất nhiều chuyên gia kinh tế vẫn “đau đáu” nỗi buồn, rằng tới cây kim, sợi chỉ hay cái tăm…. những thứ vật liệu tưởng rất đơn giản, cứ ngỡ “nằm trong tầm tay” của doanh nghiệp Việt Nam, thì giờ cũng đều được nhập khẩu từ … Trung Quốc.

Căng thẳng biển Đông và kinh tế:
Doanh nghiệp Việt Nam buộc phải chuyển hướng để giảm sự phụ thuộc nguồn nguyên liệu từ Trung Quốc

Năm 2009 nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc là 11,5 tỷ USD; 2010 là 12,6 tỷ USD; năm 2011 là 13,5 tỷ USD; năm 2012 là 16,3 tỷ USD.

Đặc biệt, nhập siêu đã tăng vọt trong năm 2013 khi tổng giá trị kim ngạch thương mại hai nước lên tới 50,2 tỷ USD, đưa mức nhập siêu của Việt Nam lên gần 24  tỷ USD, tăng gấp rưỡi năm 2012.

Tình trạng nhập siêu vẫn gia tăng mạnh trong những tháng đầu năm 2014, theo số liệu thống kê của Tổng Cục Hải quan, tính đến hết quý I năm nay giá trị kim ngạch nhập siêu từ Trung Quốc là 4,5 tỷ USD.

Việt Nam những năm qua đã nhập khẩu rất nhiều những mặt hàng giá trị và nguyên liệu cơ bản cho các ngành dệt may  trong nước từ phía Trung Quốc như: Vải các loại; Sắt thép các loại; Xăng dầu các loại; Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác; Máy vi tính, điện thoại, sản phẩm điện tử và linh kiện.

Trong khi đó chúng ta xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là dầu thô, cao su, nông sản, một số sản phẩm điện tử và linh kiện, máy vi tính.

Vấn đề đặt ra cho tình hình hiện nay là ảnh hưởng, sức ép từ vấn đề Biển Đông lên hoạt động thương mại giữa các DN hai nước, nên phòng tránh như thế nào để giảm rủi ro xuống mức tối thiểu?

Không trả lời thẳng vào câu hỏi của PV Infonet, “Việt Nam có thể thoát khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc về kinh tế hay không?”, TS. Võ Trí Thành – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế trung ương (CIEM) thẳng thắn, “Trung Quốc kể cả trong trung và dài hạn vẫn là thách thức về mặt kinh tế, không chỉ đối với Việt Nam mà ngay cả các nước đều vậy. Trung Quốc là một thị trường lớn, tại sao chúng ta lại phải bỏ qua?”.

TS. Võ Trí Thành - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM): "Tuy tình hình căng thẳng ở biển Đông, nhưng chúng phải khẳng định, rằng sẽ dùng tất cả các biện pháp có thể bằng con đường hòa bình để bảo vệ chủ quyền đất nước. Khi có cú “sốc” nên nhìn vấn đề kinh tế lý trí hơn".

Cắt nghĩa cụ thể hơn, vị chuyên gia này phân tích, khả năng kháng cự của một nền kinh tế trước những cú sốc, bao giờ cũng bao hàm những đặc điểm chung, như mạng sản xuất, chuỗi giá trị…. Trung Quốc hay bất kỳ nước nào trong khu vực Đông Á cũng nằm trong mạng sản xuất và chuỗi giá trị ấy. Quan trọng, khi có một tác động đến nền kinh tế do bất kỳ lý do nào, thì yêu cầu đặt ra là cần phải biết san sẻ rủi ro.

“Khi Việt Nam tham gia cộng đồng Asean +1 hay Asean +6, thì Trung Quốc cũng đều là thành viên. Trong thách thức bao giờ cũng có cơ hội. Cái chính với Trung Quốc thì phải dám chơi và biết cách … chơi" – TS. Võ Trí Thành nêu quan điểm.

Chuyển hướng để giảm sự phụ thuộc

Cũng trùng với ý lo ngại của vị chuyên gia trên, bản báo cáo kinh tế thường niên 2014 vừa được Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế & Chính sách (VEPR) công bố cũng cảnh báo, cú “sốc” trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng tới kinh tế Việt Nam. Bởi, Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nền kinh tế Trung Quốc với tư cách nước nhập khẩu ròng về nguyên vật liệu, thiết bị xây dựng, máy móc và dịch vụ xây dựng nhiều công trình năng lượng và hạ tầng. Đồng thời là nhà xuất khẩu ròng nhiều mặt hàng nông nghiệp quan trọng như cao su, gạo, hoa quả... nên quan hệ xấu đi giữa hai nước sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam.

“Sức hồi phục nền kinh tế khá mong manh, nên thêm bất kỳ cú sốc nào cũng khiến tăng trưởng kinh tế bị ảnh hưởng”- bản báo cáo nhận định. Chính vì thế, các chuyên gia của VEPR đưa ra mức dự báo khá “sốc” về mức tăng trưởng kinh tế năm 2014.

Ở kịch bản thứ nhất, khi nền kinh tế phải chịu thêm tác động của tình hình biển Đông, tăng trưởng GDP cũng sẽ chỉ đạt 4,15% và lạm phát 4,76%. Kịch bản thứ 2 các chỉ số đưa ra cao hơn,  tăng trưởng sẽ đạt 4,88% và lạm phát chỉ đạt 5,51% thì các mốc chỉ tiêu này đều cách xa so với mục tiêu lạm phát dưới 7% và GDP khoảng 5,8% mà Chính phủ đề ra hồi đầu năm.

Tuy vậy, theo TS. Nguyễn Đức Thành – Giám đốc VEPR thì Việt Nam hoàn toàn có thể thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc nếu kịp thời chuyển hướng, chuyển đổi thành nền kinh tế có giá trị gia tăng cao hơn.

“Tôi nghĩ điều này là hoàn toàn khả thi, bởi nếu không như thế, kinh tế chúng ta sẽ khó khăn. Chúng ta sẽ nhìn thấy ngay lập tức trong tương lai sắp tới: đó là suy giảm về kinh tế. Không chỉ Việt Nam mà rất nhiều nước khác trên thế giới cũng phụ thuộc ở mặt này vào kinh tế Trung Quốc”-  ông Thành nói.

“Bày cách” để doanh nghiệp Việt cũng như nền kinh tế giảm sự lệ thuộc vào nguồn hàng – thị trường xuất khẩu Trung Quốc, TS. Thành đưa ra lời khuyên, trước mắt,  doanh nghiệp Việt Nam phải tăng cường khả năng sản xuất, về cung ứng nguyên liệu, vật liệu. Kế đến, tìm những đối tác tương đương hoặc có chất lượng tốt hơn Trung Quốc như các thành viên trong ASEAN, Hàn Quốc, thậm chí từ châu Âu, châu Mỹ … dù giá nhập khẩu có thể cao hơn nhưng chất lượng đương nhiên sẽ tốt hơn rất nhiều. Đồng thời, kéo dài chu trình sản xuất, không quay vòng vốn nhanh như trước đây.

Để làm được điều này thì về mặt nội bộ nền kinh tế, các doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam phải linh hoạt hơn, đặc biệt là cần một sự phát triển nhiều hơn và tự tìm kiếm những nguồn thay thế.  Khu vực DNNN cũng như khu vực đầu tư công cũng cần có những kế hoạch hỗ trợ, không phụ thuộc quá nhiều vào nguyên phụ liệu cũng như các nguồn cung ứng từ Trung Quốc như hiện nay.

“Sự chuyển mình ban đầu bao giờ cũng khó khăn, nhưng là cách buộc các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải làm, phải đối mặt, nhưng đồng thời cũng tránh được những rủi ro với sự bất nhất, sự không thể dự báo trước trong quan hệ với Trung Quốc”- TS. Nguyễn Đức Thành quả quyết.

Theo một chuyên gia kinh tế, hiện Bộ Công Thương đang nghiên cứu và tham mưu cho Chính phủ về vấn đề định hướng giảm sự phụ thuộc thương mại vào một thị trường nhất định. Chính phủ sẽ tạo điều kiện để các DN đa dạng hóa thị trường.

Theo ông Nguyễn Tuấn, Phó giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư (ITPC),  “hiện có nhiều DN nhỏ và vừa làm ăn với DN Trung Quốc và phải chịu những trận “sốt hàng” khi DN Trung Quốc thu gom hay bị “dội hàng” khi DN Trung Quốc đã đặt mua hàng mà không mua gây thiệt hại rất lớn cho chúng ta. Các DN cũng đã và đang chuyển hướng sang các thị trường các nước Đông Nam Á như: Philipin, Malaysia, Thái Lan, Indonesia…”.

Theo TS. Lê Đăng Doanh, “đa dạng hóa thị trường là việc buộc phải làm, thông qua đó cũng tác động vào việc thúc đẩy quá trình tái cấu trúc của DN Việt Nam  mạnh mẽ hơn để sản xuất ra được những sản phẩm thay thế nhập khẩu”.

Chuyên gia kinh tế trên cũng cho biết thêm, hiện các DN trong nước rất cần nguồn vốn trung, dài hạn để đầu tư máy móc, đổi mới công nghệ, cải tiến sản phẩm cạnh tranh với các mặt hàng nhập khẩu. Do vậy, các ngân hàng nên mạnh dạn đẩy mạnh tín dụng qua kênh này để tạo ra những sản phẩm thay thế nhập khẩu, có như thế mới mong giảm phụ thuộc thương mại.

TIN LIÊN QUAN
Trường Giang - Linh Lan
Tin cùng chuyên mục
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Đọc nhiều