Chiến lược phát triển bền vững nuôi biển Việt Nam

Việt Nam đang ở điểm khởi đầu của nuôi biển công nghiệp ở vùng xa bờ và đại dương, phải đối điện với nhiều thách thức.

Việt Nam là quốc gia đứng thứ 4 thế giới về nuôi trồng thủy sản. Từ năm 2007, sản lượng nuôi trồng thủy sản của Việt Nam đã vượt trên sản lượng khai thác thủy sản.

Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vượt 9 tỷ USD năm 2018, đứng thứ 5 thế giới. Tuy nhiên, sản lượng và chất lượng hải sản khai thác từ biển ngày càng hạn chế, không thể đáp ứng được nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy sản.

Riêng về hải sản, mức độ đáp ứng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến hải sản chỉ ở mức dưới 20% công suất thiết kế của nhà máy. Thiếu hụt nguyên liệu đang là một nguyên nhân chính hạn chế hiệu quả của ngành chế biến xuất khẩu hải sản.

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam (VSA), Việt Nam có rất nhiều lợi thế để phát triển nuôi biển. Chuyển dần từ việc khai thác sang nuôi biển là hướng phát triển bền vững và mang tính đột phá cho nền kinh tế và quốc phòng của đất nước.

PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam.

Trong vài chục năm qua, nuôi biển Việt Nam đã tự phát khởi đầu, cả nước có khoảng 50.000 hộ ngư dân nuôi hải sản ở vùng ven bờ, với quy mô nhỏ, manh mún, công nghệ thủ công lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường, phát sinh dịch bệnh, hiệu quả kinh tế thấp và rất không bền vững. Việt Nam đang ở điểm khởi đầu của nuôi biển công nghiệp ở vùng xa bờ và đại dương, với nhiều thách thức.

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng, một số thách thức đối với ngành nuôi biển của Việt Nam là: Thiếu kế hoạch phát triển nuôi biển quốc gia, thiếu chính sách khuyến khích và ưu tiên nhằm thu hút đầu tư của cộng đồng doanh nghiệp; Công cụ quản lý nhà nước về biển còn yếu và không có cơ chế đồng quản lý hiệu quả; Lực lượng sản xuất nuôi biển còn quá mỏng, trình độ công nghệ còn lạc hậu, mới có rất ít doanh nghiệp nuôi biển; Hệ thống cảnh báo và kiểm soát an ninh còn lạc hậu, thách thức lớn cho việc nuôi xa bờ; Rủi ro do ô nhiễm môi trường biển cao, suy giảm nguồn lợi biển ngày càng nghiêm trọng, quản lý môi trường biển còn lỏng lẻo; Quan hệ liên kết trong chuỗi giá trị nuôi biển (giữa trại nuôi với hệ thống cung cấp thức ăn, giống, chế biến, tiêu thụ, phân phối,…) chưa được xây dựng.

Phát triển nuôi biển công nghiệp là giải pháp chiến lược tạo đột phá để giải quyết về cơ bản những hạn chế đó, chủ động tạo ra nguồn nguyên liệu dồi dào cho công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm, phát điện, phân bón sinh học, giảm phát thải khí nhà kính, quản lý tốt hơn môi trường biển, tạo công ăn việc làm mới cho hàng chục vạn ngư dân, tăng cường sự hiện diện thường xuyên của ngư dân trên biển, góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam, đưa Việt Nam trở thành cường quốc về nuôi biển.

Tiềm năng nuôi biển của Việt Nam chưa được khai thác. 

PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng cho biết, thực hiện nguyện vọng của cộng đồng doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ nuôi biển, Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam (VSA) đã khởi thảo trình Thủ tướng Chính phủ và với sự chỉ đạo của Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT giao cho VSA phối hợp với Tổng cục Thủy sản xây dựng “Chiến lược Phát triển Nuôi biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045”, hiện đang được Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt.

Mục tiêu của Chiến lược là sắp xếp lại để ổn định vùng nuôi có hiệu quả ven biển, đảo gần bờ, đảm bảo môi trường sinh thái; phát triển mạnh theo hướng bền vững nuôi biển công nghiệp vùng xa bờ, hình thành ngành sản xuất hàng hóa tập trung, với quy mô lớn, công nghệ ngày càng hiện đại, năng suất cao, sản phẩm đa dạng, có khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế thế giới, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, quốc phòng, an ninh vùng biển, đảo của đất nước, góp phần thực hiện thành công Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo tinh thần Nghị quyết 36-NQ/TW.

Cụ thể, đến năm 2030, diện tích nuôi biển của Việt Nam đạt 300.000 ha, thể tích lồng nuôi 10 triệu m3, sản lượng đạt 1.750.000 tấn, giá trị xuất khẩu hải sản nuôi đạt 4-6 tỷ USD. Trong đó, riêng về nuôi biển xa bờ có sản lượng 690.000 tấn (cả biển 450.000 tấn, rong biển 100.000 tấn, nhuyễn thể 100.000 tấn, giáp xác 20.000 tấn, sản phẩm khác 20.000 tấn).

Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam có nền công nghiệp nuôi biển tiên tiến, phát triển bền vững, với công nghệ hiện đại và phương thức quản lý khoa học, trở thành bộ phận chính của nền kinh tế biển nước ta, đưa Việt Nam trở thành quốc gia hàng đầu về công nghiệp nuôi biển trong khối ASEAN, đứng top 5 thế giới về sản lượng và giá trị xuất khẩu hải sản nuôi. Sản lượng nuôi biển đạt 3-4 triệu tấn/năm, giá trị thương mại và xuất khẩu trên 10 tỷ USD.

TIN LIÊN QUAN
Nguyễn Tuân
Tin cùng chuyên mục
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Đọc nhiều