Dự án “lấn sông Hàn”: Các chuyên gia thủy lợi hàng đầu nói không cản trở dòng chảy

Cả 4 chuyên gia hàng đầu về thủy lợi đến từ ĐH Thủy lợi (Hà Nội), ĐH Bách khoa TP.HCM, ĐH Bách khoa Đà Nẵng và TP Đà Nẵng đều có chung kết quả tính toán về việc, dự án Marina Complex không gây cản trở dòng chảy sông Hàn, không làm gia tăng ngâp lụt cho Đà Nẵng...

PGS.TS Lê Song Giang (Đại học Bách khoa TP.HCM):

Với tham luận “Tác động của dự án Marina Complex tới chế độ thủy lực sông Hàn” nhằm trả lời 3 câu hỏi: Việc san lấp của dự án có gây cản trở dòng chảy sông Hàn, từ đó làm gia tăng ngập lụt cho Đà Nẵng hay không?

Việc san lấp của dự án làm thay đổi dòng chảy khu vực thế nào, đặc biệt là khu vực các trụ cầu Thuận Phước? Nếu có thay đổi bất lợi về thủy lực, thì giải pháp khắc phục như thế nào?

PGS.TS Lê Song Giang (Đại học Bách khoa TP.HCM) - Ảnh: HC

Về điều kiện thủy văn, tham luận xét hai trận lũ, gồm trận lũ lịch sử năm 1999 (tần suất 2,24%) và trận lũ năm 2013; sử dụng mô hình toán số (mô hình tích hợp 1D2D3D) được xây dựng trong khoảng thời gian 2014 – 2015, trong khuôn khổ dự án nghiên cứu lũ sông Vu Gia – Thu Bồn cho Sở Xây dựng Đà Nẵng, đồng thời được cập nhật và chi tiết hóa  khu vực của sông Hàn.

Qua đó cho thấy, xét theo các thông số mùa lũ 2013 thì mực nước đỉnh lũ tại cầu Rồng với hiện trạng san lấp dự án Marina Complex thấp hơn 2,7cm so với trường hợp duy trì đường bờ 2015 và thấp hơn 2,6cm so với trường hợp duy trì đường bờ 2002. Xét theo mùa lũ 1999, thì mực nước đỉnh lũ tại cầu Rồng với hiện trạng san lấp dự án Marina Complex thấp hơn 5,4cm so với trường hợp duy trì đường bờ 2015 và thấp hơn 5,2m so với trường hợp duy trì đường bờ 2002.

“Như vậy kết quả tính toán cho thấy, việc san lấp khu dự án Marina Complex không gây bất lợi cho việc thoát lũ của sông Hàn, không làm gia tăng ngập lũ của Đà Nẵng mà ngược lại đã giúp nắn lại dòng chảy làm cho thoát lũ tốt hơn!” – PGS.TS Lê Song Giang nói.

Với câu hỏi, san lấp của dự án làm thay đổi dòng chảy khu vực thế nào, ông Giang cho hay: “Các kết quả tính toán không cho thấy có một thay đổi rõ rệt nào của dòng chảy ngay tại trụ cầu Thuận Phước”. Thay đổi bất lợi đáng kể nhất là vận tốc tại đầu đê, kè dự án Marina Complex gia tăng khoảng 13 – 14cm/s; vận tốc tại đầu đê bình thường đã lớn (>100cn/s), nay còn lớn hơn. Có một số khu vực khác cũng gia tăng vận tốc, nhưng bình thường vận tốc tại đó rất nhỏ nên việc gia tăng vận tốc 10 – 20cm/s không có ý nghĩa.

Để khắc phục sự gia tăng vận tốc tại đầu đê, ông Giang đề nghị gỡ bỏ đoạn đê cũ còn lại tại chân ngọn hải đăng sát phía ngoài bờ kè dự án, nhằm giúp nước chảy thẳng vào luồng bên phải đê và giảm vận tốc tại đầu đê xuống thấp hơn hiện nay, cũng như thấp hơn trước đây. Đồng thời, giúp gia tăng vận tốc dòng chảy trong luồng bên phải đê và làm cân bằng hơn vận tốc của hai luồng hai bên đê.

TS Lê Hùng (Khoa Xây dựng Thủy lợi – Thủy điện, Đại học Bách khoa Đà Nẵng):

Báo cáo “Ảnh hưởng ngập lụt đối với sự thay đổi địa hình TP Đà Nẵng” gồm 4 nội dung: 1/ Tình hình lũ lụt sông suối Đà Nẵng; 2/ Ngập lụt khu vực trước và sau khi có kè (dự án Marina Complex); 3/ Kiến nghị nội dung cần đánh giá khu vực; 4/ Kết luận và kiến nghị.

TS Lê Hùng (Khoa Xây dựng Thủy lợi – Thủy điện, Đại học Bách khoa Đà Nẵng) - Ảnh: HC

Với nội dung Ngập lụt khu vực trước và sau khi có kè”, thông qua chạy mô hình với các số liệu của mùa lũ 2009, TS Lê Hùng đưa ra hàng loạt bản đồ lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn, sơ đồ duỗi thẳng các công trình trên hệ thống Vu Gia – Thu Bồn; bản đồ địa hình khu vực tính toán, cao độ ngập khu vực, vận tốc dòng chảy khu vực, thay đổi cao độ ngập và vận tốc dòng chảy khu vực… trước và sau khi có tuyến kè và lấp đất dự án Marina Complex.

“Qua kết quả chạy mô hình cho trận lũ năm 2009 có thể thấy, mức độ ngập lụt từ khu vực kè dự án Marina Complex ra chỗ cầu Thuận Phước giảm, tuy nhiên phía thượng nguồn gia tăng từ 0 – 0,05m. Do vậy, mức độ ảnh hưởng của công trình đến khu vực xung quanh là không lớn!” – TS Lê Hùng kết luận.

GS.TS Phạm Thị Hương Lan (Trưởng khoa Thủy văn – Tài nguyên nước, Đại học Thủy lợi):

Khi thực hiện dự án, số liệu khí tượng thủy văn đã được thu thập đồng bộ từ năm 1976 đến thời điểm lập báo cáo. Trong đó, trận lũ 2009 và 2010 được sử dụng để hiệu chỉnh và kiểm định mô hình. Các số liệu này đã được kiểm chứng thông qua việc nghiệm thu các dự án là có đủ độ tin cậy phục vụ tính toán.

GS.TS Phạm Thị Hương Lan (Trưởng khoa Thủy văn – Tài nguyên nước, Đại học Thủy lợi) - Ảnh: HC

Với chuỗi số liệu hiện có từ năm 1976 đến thời điểm lập báo cáo có thể coi là đủ dài và nguồn số liệu được thu thập từ Trung tâm Khí tượng Thủy văn Trung ương, nên có thể dùng để thực hiện tính toán phục vụ dự án này và đảm bảo đủ độ tin cậy phục vụ cho việc thẩm định đánh giá dự án. 

Để đánh giá tác động của dự án đến việc thoát lũ, tư vấn đã mô phỏng các kịch bản lũ hiện trạng IX/2009, XI/2010 và kịch bản lũ thiết kế với tần suất 5%, 1% lũ sớm, lũ muộn tổ hợp với các biên triều tần suất 10% ứng với đặc trưng mực nước triều lớn nhất, trung bình và nhỏ nhất...

Kết quả phương án mô phỏng lũ hiện trạng cho thấy, mực nước trên sông Hàn quanh khu vực dự án có thay đổi, chủ yếu là giảm mực nước dưới tác động của công trình kè. Lưu tốc thay đổi quanh khu vực kè, làm tăng lưu lượng vào luồng. Hướng dòng chảy chính về cơ bản không thay đổi, một số vị trí quanh khu vực kè có sự thay đổi do tác động hướng dòng của kè. Kết quả tính toán trên là phù hợp với quy luật chế độ thủy động lực khu vực dự án.

“Là thành viên phản biện của Hội đồng ĐTM trước đây, trước khi đến dự hội nghị này, chúng tôi có tính toán, kiểm tra, đánh giá bổ sung để trả lời hai câu hỏi đang được dư luận quan tâm. Thứ nhất là tác động của dự án đối với vấn đề thoát lũ ở phía hạ du như thế nào? Thứ hai là ảnh hưởng đến dòng chảy, đến cây cầu Thuận Phước ra sao?” – TS Phạm Thị Hương Lan nói.

Trên cơ sở kết quả thu thập số liệu từ năm 1977 đến nay, TS Lan đã tính toán với số liệu trận lũ lịch sử tháng 10/1999 trên lưu vực Vu Gia – Thu Bồn (tần suất xuất hiện khoảng 2%) và với số liệu của trận lũ tháng 9/2009 (tần suất xuất hiện 5%). Trong phạm vi khuôn khổ trình bày tại hội nghị, TS Hương Lan tập trung phân tích sâu với số liệu của trận lũ tháng 10/1999.

“Kết quả tính toán của chúng tôi cũng tương đối trùng khớp với kết quả mà TS Lê Hùng công bố ở trên, mặc dù hai bên sử dụng hai bài toán thủy động lực học khác nhau (mô hình 2 chiều và mô hình 3 chiều) với cùng số liệu của trận lũ lịch sử năm 1999. Theo tính toán của chúng tôi, so giữa khi triều rút với đỉnh lũ tại khu vực, thì mực nước tăng khoảng 0,06m, còn TS Lê Hùng tính toán là 0,05m!” – GS.TS Phạm Thị Hương Lan cho hay.

Thạc sĩ Huỳnh Vạn Thắng (chuyên gia thủy lợi, nguyên Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Đà Nẵng):

Hệ thống kè hướng dòng và tạo luồng giao thông thủy từ vịnh Đà Nẵng vào sông Hàn đã được xây dựng từ thời Pháp thuộc, kè chính chạy từ cầu Thuận Phước ra cảng Tiên Sa dài 2km. Đây là công trình chỉnh trị sông rất quan trọng, giúp cho Đà Nẵng có cảng nước sâu Tiên Sa và có tới 10 cầu cảng chạy dọc bờ Tây sông Hàn.

Thạc sĩ Huỳnh Vạn Thắng (chuyên gia thủy lợi, nguyên Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Đà Nẵng) - Ảnh: HC

Các con sông miền Trung có đặc điểm chế độ thủy văn là mùa khô thì nước rất ít, mùa lũ thì nước rất nhiều. Do đó trong mùa khô, các cửa sông lớn ở miền Trung đều bị bồi lấp, tàu thuyền đánh cá của ngư dân không ra vào được. Cửa Đại (sông Thu Bồn, Quảng Nam), cửa Trà Khúc (sông Trà Khúc, Quảng Ngãi), cửa Đà Rằng (sông Ba, Phú Yên), cửa Hòa Duân (sông Hương, TT-Huế), cửa sông Nhật Lệ (Quảng Bình)… đều bị bồi lấp rất nặng.

Riêng sông Hàn, nhờ hệ thống chỉnh trị sông, kè hướng dòng mà tàu lớn, tàu hàng cũng vô sâu trong nội địa được. Đoạn đầu của kè hướng dòng này nằm ngay dự án Marina Complex. Đoạn kè cơ bản bám theo tuyến kè hướng dòng để tạo luồng, giữ luồng, tuy nhiên cao trình thấp. Nhưng khi xây dựng kè Mân Quang nối tiếp kè Bạch Đằng Đông thì không chỉ đảm bảo nhiệm vụ hướng dòng mà còn có nhiệm vụ phát triển đô thị và bảo vệ khu vực đô thị phía trong.

“Do đó, với thiết kế mới thì tuyến kè này được nâng lên với cao trình đỉnh kè cao hơn so với đỉnh kè cũ vì nó kiêm thêm nhiệm vụ phát triển đô thị. Đỉnh kè này lấy theo tiêu chuẩn 5%, tức là trong 100 năm thì cho phép nước lũ có thể cao hơn đỉnh kè là 5 lần trong 5 năm!” – Ông Huỳnh Vạn Thắng nói.

Ông Thắng cho biết thêm, từng là thành viên Hội đồng phản biện ĐTM dự án Marina Complex, ông cũng từng rất phân vân về tác động của dự án này đến vấn đề cản trở dòng chảy, làm tăng mức độ ngập lũ. Tuy nhiên, sau khi chạy các chương trình mô phỏng các trận lũ lớn đã xảy ra với các kịch bản lũ thiết kế 1%, 5%... thì thấy có ảnh hưởng, nhưng mức độ ảnh hưởng rất nhỏ.

“Không chỉ mức độ ảnh hưởng nhỏ mà thậm chí tuyến kè trước đây thấp, nay được nâng cao lên với tác động hướng dòng của nó thì nhiều chỗ mức lũ còn giảm xuống. Chỉ có một khu vực mà mực nước có tăng lên nhưng chênh lệch cũng chỉ 0,05m, tức chỉ 5cm. Bảo không ảnh hưởng thì không đúng nhưng, rõ ràng là ảnh hưởng quá nhỏ so với công trình gây cản trở thoát lũ nhiều nhất, lớn nhất trên sông Hàn là cầu Sông Hàn.

Theo quan trắc khu vực cầu Sông Hàn năm 1999, thì mực nước giữa thượng và hạ lưu sông Hàn (ứng với lũ vào khoảng 2%) lệch nhau tới mức chúng ta không tưởng tượng nổi đâu. Lên tới 2m nước, tức 200cm, rất kinh khủng; trong khi dự án Marina Complex chỉ làm tăng mực nước ở một khu vực nhỏ và cũng chỉ có 5cm.

Ngoài ra, các yếu tố khác như vận tốc dòng chảy, hướng dòng chảy đều thay đổi không đáng kể. Điều đó cho phép những gì ở khu vực cửa sông Hàn phía sau tuyến kè là sẽ ổn định. Và không chỉ có báo cáo ĐTM trước đây mà các nghiên cứu, báo cáo mới nhất của các chuyên gia hàng đầu vừa công bố ở trên cũng đều có chung kết quả. Như vậy thì không gì phải nghi ngờ nữa mà đã rất rõ!” – Chuyên gia Huỳnh Vạn Thắng nhấn mạnh.

Với kết quả tính toán như vậy, chuyên gia này cho rằng nên có cách ứng xử hài hòa. Một khi dự án không gây ảnh hưởng nặng nề về thoát lũ và dòng chảy thì vấn đề còn lại chỉ là kiến trúc cảnh quan phù hợp với khu vực cửa sông. Mặt tiền dự án hướng ra sông cần đảm bảo mảng xanh, và cần hình thành dự án mở, giao thông thuận lợi cho người dân tiếp cận sông Hàn và các dịch vụ công cộng trong khu vực.

Về chất lượng hồ sơ đánh giá ĐTM: 

“Sở TN-MT Đà Nẵng là cơ quan quản lý nhà nước được UBND TP ủy quyền để thực hiện Hội đồng thẩm định ĐTM. Qua theo dõi toàn bộ hồ sơ cho thấy, khi triển khai việc thẩm định tại thời điểm đó thì Sở thực hiện rất đúng quy trình, quy định. Danh sách các thành viên tham gia Hội đồng toàn là các chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực hữu quan.

Trong hồ sơ ĐTM và các biên bản cuộc họp đều nêu ra tất cả các vấn đề mà dư luận hiện nay nêu ra. Hội đồng ĐTM lúc đó cũng rất thận trọng, đã yêu cầu Viện Thủy văn miền Trung và Viện Thủy văn Môi trường và Biến đổi khí hậu (Đại học Thủy lợi) thẩm định lại kết quả tính toán mô hình thủy lực của đơn vị tư vấn ĐTM.

Trên cơ sở đó, Hội đồng xem xét và đã có đánh giá dự án này có ảnh hưởng tuy nhiên không lớn đến những vấn đề nêu ra. Trên cơ sở tham mưu của Sở TN-MT thì UBND TP Đà Nẵng ban hành Quyết định phê duyệt DTM của dự án này!”. 

(Ông Tô Hùng, Giám đốc Sở TN-MT Đà Nẵng)

 

TIN LIÊN QUAN
HẢI CHÂU
Tin cùng chuyên mục
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Đọc nhiều