Kịp thời cứu sống bệnh nhi giảm tiểu cầu nghiêm trọng vì sốt xuất huyết

Sốt xuất huyết đến ngày thứ 4, bệnh nhi bắt đầu lừ đừ, rối loạn vận mạch, rơi vào tình trạng nguy hiểm vì tiểu cầu giảm mạnh.

Bác sĩ kiểm tra sức khỏe của bệnh nhi

Bệnh nhi N.V.K (16 tuổi, nặng 64kg ngụ tại Cầu Kè – Trà Vinh) nhập khoa Nhi Bệnh viện Hoàn Mỹ Cửu Long trong tình trạng sốt cao liên tục 4 ngày, đau đầu, nhức mỏi toàn thân, ăn uống ít, chán ăn. Bệnh nhi được chẩn đoán: Sốt xuất huyết Dengue ngày 4.

Bệnh nhi được làm xét nghiệm máu với test sốt xuất huyết Dengue dương tính, tiểu cầu thấp. Sau nhập viện, bệnh nhi bắt đầu có dấu hiệu cảnh báo: lừ đừ, uống rất ít, buồn nôn liên tục, đau bụng nhiều vùng hạ sườn phải, rối loạn vận mạch, tay chân mát, huyết áp 115/70mgHg.

Bệnh nhi được chuyển qua phòng hồi sức tích cực nhi và bắt đầu truyền dịch hiệu chỉnh cân nặng theo phác đồ điều trị sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo. Kết quả xét nghiệm máu cho thấy tiểu cầu chỉ còn 26100/mm3, bằng 1/6 so với bình thường (ở người bình thường, tiểu cầu là hơn 150.000/mm3 máu), đau bụng nhiều hơn, li bì, không ăn uống được.

Sau 2 ngày 2 đêm điều trị tích cực, bệnh nhi đã phục hồi tốt, ăn uống khá hơn, giảm đau bụng, huyết áp rõ, xét nghiệm máu tiểu cầu lên 50000/mm3.

Theo BS. Quách Thị Kim Phúc – BS chuyên khoa Nhi Bệnh viện Hoàn Mỹ Cửu Long, giai đoạn nguy hiểm của sốt xuất huyết thường vào ngày thứ 3-7 kể từ khi mắc bệnh.

Lúc này người bệnh có thể có những dấu hiệu nguy hiểm như: Thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch (thường kéo dài 24-48 giờ); tràn dịch màng phổi, mô kẽ, màng bụng, nề mi mắt, gan to, có thể đau.

Nếu thoát huyết tương nhiều sẽ dẫn đến sốc với các biểu hiện vật vã, bứt rứt hoặc li bì, lạnh đầu chi, da lạnh ẩm, mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt (hiệu số huyết áp tối đa và tối thiểu ≤ 25 mmHg), tụt huyết áp hoặc không đo được huyết áp, tiểu ít.

Xuất huyết dưới da: Nốt xuất huyết rải rác hoặc chấm xuất huyết thường ở mặt trước hai cẳng chân và mặt trong hai cánh tay, bụng, đùi, mạng sườn hoặc mảng bầm tím. Xuất huyết ở niêm mạc: Chảy máu mũi, lợi, tiểu ra máu. Kinh nguyệt kéo dài hoặc xuất hiện kinh sớm hơn kỳ hạn. Xuất huyết nội tạng như tiêu hóa, phổi, não là biểu hiện nặng.

Một số trường hợp nặng có thể có biểu hiện suy tạng như viêm gan nặng, viêm não, viêm cơ tim. Những biểu hiện nặng này có thể xảy ra ở một số người bệnh không có dấu hiệu thoát huyết tương rõ hoặc không sốc.

Khi trẻ có dấu hiệu cảnh báo như đau bụng, nôn ói, xuất huyết niêm mạc, lừ đừ, li bì, bứt rứt, đau bụng vùng hạ sườn phải, đặc biệt với những trẻ có thể trạng béo phì, cần được đưa đến cơ sở y tế để được bác sĩ theo dõi, điều trị kịp thời để có kết quả tốt hơn, tránh nhập viện trong tình trạng trụy mạch.

TIN LIÊN QUAN
An Nhiên
loading...
Loading...
Tin cùng chuyên mục
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Đọc nhiều