Nhân tố trừng phạt tác động lớn thế nào đối với tiến trình đối thoại Nga-Nhật?

Nhân tố trừng phạt hiện đang là vật cản chính đối với tiến trình đối thoại Nga – Nhật về vấn đề tranh chấp lãnh thổ, triển vọng ký kết hiệp ước hòa bình cũng như hợp tác thương mại và kinh tế giữa Moscow và Tokyo. Vậy nhân tố này có ảnh hưởng lớn như thế nào đối với tiến trình đối thoại Nga-Nhật?

Thủ tướng Nhật Bản Abe, Tổng thống Nga Putin

Mới đây, trang tin của Hội đồng Nga về các vấn đề quốc tế (RIAC) có đăng bài của tác giả Ivan Timofeev, Giám đốc Chương trình của Câu lạc bộ thảo luận quốc tế Valdai kiêm Giám đốc Chương trình của RIAC với tựa đề: Nhân tố trừng phạt cản trở Đối thoại Nga-Nhật Bản.

Việc Moscow và Tokyo đẩy mạnh đối thoại một lần nữa đặt ra câu hỏi về triển vọng ký kết hiệp ước hòa bình. Cả hai nước đều coi việc tăng cường hợp tác thương mại và kinh tế là một trong những mục tiêu chính tại các cuộc đàm phán. Nhật Bản cho rằng việc giải quyết cái gọi là “vấn đề lãnh thổ” sẽ tạo ra những điều kiện mới cho quan hệ thương mại giữa hai nước.

Còn Nga đã sẵn sàng thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế như vậy, không phụ thuộc vào kết quả các cuộc thảo luận về quần đảo Kuril. Tuy nhiên, hiện đang có nhiều chông gai trên con đường hướng đến một chất lượng mới trong quan hệ kinh tế giữa hai nước, trong đó các lệnh trừng phạt chống Nga là một trong những vấn đề then chốt.

Bắt đầu từ năm 2014, Nhật Bản đã tiến hành chính sách trừng phạt chống Nga với mức độ “khá ôn hòa” so với Mỹ và Liên minh châu Âu (EU). Tokyo đã xoay sở để tạo ra một thế cân bằng hợp lý giữa sự đồng thuận với Nhóm các nền công nghiệp hàng đầu thế giới (G7) và lợi ích quốc gia của Nhật Bản.

Các lệnh trừng phạt hiện nay của Nhật Bản gây thiệt hại rất hạn chế và chủ yếu mang tính biểu tượng đối với trao đổi thương mại thực tế với Nga. Tuy nhiên, yếu tố trừng phạt đang làm suy yếu lập luận ngoại giao truyền thống của Nhật Bản là “gắn hợp tác kinh tế với việc giải quyết vấn đề lãnh thổ”.

Vấn đề chính ở đây là tính “không biên giới” của các lệnh trừng phạt từ Mỹ. Ngay cả khi chính phủ Nhật Bản sử dụng một chính sách trừng phạt ôn hòa với Moscow, thậm chí hủy bỏ các lệnh trừng phạt đó, các công ty Nhật Bản không chắc sẽ tích cực tiến hành kinh doanh tại Nga trong các lĩnh vực bị cấm vận vì e ngại khả năng bị Mỹ trừng phạt hoặc đánh mất thị trường Mỹ.

Nói cách khác, các lệnh trừng phạt làm giảm nghiêm trọng giá trị của ý tưởng thỏa hiệp về vấn đề các đảo tranh chấp để đổi lấy sự đầu tư và việc nâng cấp quan hệ song phương lên một mức mới. Tokyo cũng sẽ rất khó xoay chuyển tình thế, ngay cả khi họ có ý chí chính trị.

Tính chất “không biên giới” trong các lệnh trừng phạt của Mỹ sẽ cản trở sự hợp tác giữa Nga và Nhật Bản, bất kể đàm phán về vấn đề quần đảo Kuril diễn biến thế nào. Dường như các nhà ngoại giao Nga cũng nhận thức rõ về điều này.

Tuy nhiên, trong suốt chiều dài lịch sử, Nhật Bản đã chứng minh khả năng thích ứng cao đối với các lệnh trừng phạt của Mỹ khi chúng ảnh hưởng đến lợi ích của nước này. Điển hình, Nhật Bản là nhà nhập khẩu dầu lớn của Iran trong một thời gian dài. Việc Mỹ liên tục gia tăng trừng phạt đối với Iran đã buộc Tokyo phải tìm cách “lách luật”. Các nhà đàm phán Nhật Bản đã làm việc chuyên nghiệp và giành được sự nhượng bộ từ Mỹ.

Câu chuyện tương tự cũng đã diễn ra với lệnh trừng phạt gần đây nhất mà Mỹ áp đặt đối với Iran từ ngày 5/11/2018. Tokyo đã thỏa thuận để có được “sự ngoại lệ”, dù vẫn phải cam kết sẽ giảm mua dầu của Iran. Nói cách khác, tuy các lệnh trừng phạt làm suy yếu ý tưởng “gắn vấn đề lãnh thổ với hợp tác kinh tế”, song về mặt nguyên tắc cũng không làm mất đi cơ hội hợp tác giữa Nga và Nhật Bản.

Lệnh trừng phạt đầu tiên được áp đặt đối với Nga là sau khi cuộc trưng cầu dân ý về việc sáp nhập bán đảo Crimea vào Nga diễn ra. Ngày 18/3/2014, Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã đình chỉ các cuộc tham vấn về chế độ thị thực và đóng băng các cuộc đàm phán về hợp tác đầu tư, hợp tác vũ trụ và quân sự.

Ngày 29/4, việc hạn chế thị thực đầu tiên được áp đặt đối với 23 công dân Nga. Những biện pháp này chủ yếu là tín hiệu thể hiện sự đồng thuận của Tokyo với Nhóm G7 về vấn đề Ukraine, đồng thời cũng gửi tín hiệu tương tự đến Moscow. Tuy nhiên, ngay cả trong giai đoạn này, các hành động của Nhật Bản cũng thận trọng hơn so với các bước đi của Mỹ và EU.

Thủ tướng Nhật Bản Abe, Tổng thống Mỹ Trump

Một câu hỏi quan trọng cho tương lai là liệu các công ty Nhật Bản có muốn đầu tư vào Nga hay không, nếu tính đến các biện pháp trừng phạt vượt ra ngoài lãnh thổ của Mỹ, đặc biệt là sau khi Mỹ áp dụng Đạo luật chống đối thủ của Mỹ thông qua cấm vận (CAATSA) và tính đến khả năng Mỹ sẽ còn siết chặt trừng phạt chống Nga.

Kinh nghiệm cho thấy Bộ Tài chính Mỹ sẽ trừng phạt các công ty thuộc quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào nếu vi phạm lệnh trừng phạt “không biên giới” của Mỹ. Quan hệ đồng minh cũng không giúp các công ty tránh khỏi mối đe dọa bị Bộ Tài chính Mỹ trừng phạt.

Do đó, chính phủ của một số quốc gia đã phản đối các lệnh trừng phạt và thậm chí sẵn sàng bảo vệ các công ty của nước họ. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp không muốn mạo hiểm và họ chấp nhận tuân thủ luật pháp Mỹ. Việc giải quyết tranh chấp với cơ quan quản lý Mỹ cho thấy các công ty thường tuân thủ các yêu cầu của Mỹ một cách tốt nhất có thể.

Việc Washington gia tăng áp lực trừng phạt đối với Nga gây ra rủi ro cao hơn cho các doanh nghiệp Nhật Bản. Với sự thống trị của đồng USD, các giao dịch giữa Nhật Bản với Nga sẽ luôn bị các cơ quan chức năng của Mỹ giám sát, kéo theo các hệ lụy có thể nảy sinh, từ việc phạt tiền, hạn chế giao dịch cho đến việc bị loại khỏi thị trường Mỹ.

Tuy nhiên, nhiều công ty Nhật Bản thời gian qua cũng đã thực hiện các giao dịch với người Nga bất chấp các lệnh trừng phạt. Năm 2016, Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) đã cấp khoản vay trị giá 39 triệu USD cho Ngân hàng Sberbank để thực hiện một dự án ở Viễn Đông. JBIC cũng đã đầu tư 400 triệu USD vào dự án khí hóa lỏng "Yamal LNG" thuộc sở hữu của Tập đoàn Novatek (vốn đang nằm trong danh sách trừng phạt của Mỹ). Một dự án khác có khoản đầu tư trị giá 170 triệu USD đã được thực hiện đối với công ty Transneft vốn cũng nằm trong danh sách trừng phạt của Mỹ và EU.

Câu hỏi đặt ra là liệu các công ty khác của Nhật Bản (đặc biệt là công ty tư nhân) có tiến hành đầu tư vào Nga với quy mô lớn như vậy hay không? Kinh nghiệm hợp tác với Trung Quốc và Ấn Độ cho thấy các doanh nghiệp tư nhân của các nước này thường tuân thủ các yêu cầu của Mỹ ngay cả khi họ biết rằng quan hệ chính trị của Moscow với Bắc Kinh và Delhi là thân thiện và hữu nghị. Thời gian sẽ cho thấy liệu Tokyo có trở thành một ngoại lệ của xu hướng này hay không?

TIN LIÊN QUAN
Trí Đức (Tổng hợp)
Tin cùng chuyên mục
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Đọc nhiều