Quy định “phi công nghỉ việc phải báo trước 120 ngày” là phạm luật?

Chí Tín

Việc Bộ GTVT quy định “nhân viên hàng không trình độ cao” muốn “nghỉ việc phải báo trước 120 ngày”, đang gây ra những tranh cãi về việc vi phạm Bộ Luật Lao Động.

Bộ nói… bộ phải

Ngày 12/6/2015, Bộ trưởng Bộ GTVT ban hành Thông tư số 41/2015/TT-BGTVT (Thông tư 41/2015), sửa đổi bổ sung một số điều trong phần 12 và 14 của Bộ quy chế an toàn hàng không dân dụng trong lĩnh vực tàu bay và khai thác tàu bay.

Tại phần 14.169 của văn bản này, có quy định “nhân viên hàng không trình độ cao” muốn nghỉ việc phải báo trước 120 ngày. Ngoài ra khi chuyển đổi nhà khai thác, nhân viên phải: “Đã chấm dứt hợp đồng lao động và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ (nếu có) đối với người khai thác tàu bay, tổ chức bảo dưỡng tàu bay hiện tại theo quy định…”.

Thông tư thì nhân viên hàng không trình độ cao khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động phải báo trước cho người sử dụng lao động 120 ngày, trong khi Luật Lao động quy định 45 ngày

Sau đó, ngày 30/6/2017, Bộ trưởng Bộ GTVT, ban hành Thông tư số 21/2017/TT-BGTVT (Thông tư 21/2017), văn bản này cũng đưa những nội dung trên vào “Bộ quy chế an toàn hàng không dân dụng lĩnh vực tàu bay và khai thác tàu bay”.

Điều mà dư luận đang quan tâm đó là những quy định trong 2 Thông tư 41/2015 và 21/2017 của Bộ GTVT đang trái với Điều 37 Bộ luật Lao động và trái với Điều 5 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Cho rằng việc ra các văn bản nêu trên không trái với pháp luật, tại buổi họp báo Chính phủ ngày 2/6/2018 khi trả lời báo chí, Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Nhật cho rằng: Hai thông tư số 41/2015 và Thông tư 21/2017 thay thế Thông tư 41 cả hai thông tư này đều điều chỉnh việc sử dụng người lao động trong lĩnh vực hàng không. Do lĩnh vực hàng không có nhiều điểm rất đặc biệt, tiêu chí an toàn an ninh hàng không phải tuân thủ theo các tiêu chuẩn đặc biệt khắt khe. Đào tạo các nhân viên ngành hàng không, đặc biệt là các phi công, rất mất thời gian, quy trình quy định khác nhau.

Cũng theo Thứ trưởng Nguyễn Nhật, tại Khoản 1, Điều 70 của Luật Hàng không dân dụng 2006 đã giao thẩm quyền cho Bộ trưởng Bộ GTVT quy định về chế độ lao động đặc thù đối với nhân viên hàng không. Căn cứ quy định này, ngày 12/8/2015, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Thông tư số 41/2015/TT-BGTVT và sau đó được thay thế bằng Thông tư số 21/2017/TT-BGTVT để tạo hành lang pháp lý cho việc quản lý, sử dụng nhân viên hàng không bậc cao, tạo điều kiện cho việc sử dụng nguồn nhân lực một cách hài hòa, không tạo nên những đột biến trong quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động khai thác cảng hàng không, sân bay.

Theo quy định của Thông tư thì nhân viên hàng không trình độ cao khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động phải báo trước cho người sử dụng lao động 120 ngày.

Theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Lao động, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày.

Như vậy, Điều 37 của Bộ luật Lao động chỉ quy định mức giới hạn tối thiểu mà không quy định mức tối đa. Mặt khác, tại Khoản 2, Điều 3, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam quy định: “Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật này với luật khác về cùng một nội dung liên quan đến hoạt động hàng không dân dụng thì áp dụng quy định của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam”, do vậy quy định trong Luật này được ưu tiên.

Ban hành quy định trái luật 

Trao đổi về những nội dung trong 2 văn bản nêu trên hiện đang không tuân thủ một số vấn đề trong việc chấm dứt hợp đồng lao động và bồi hoàn chi phí đào tạo không đúng với quy định, Luật sư Lê Minh Thắng – Giám đốc Công ty Luật K và Cộng Sự, thuộc Đoàn Luật sư TP Hà Nội cho biết:

Bộ quy chế an toàn hàng không dân dụng lĩnh vực tàu bay và khai thác tàu bay (ban hành kèm theo Thông tư 21/2017) gồm 23 phần. Trong đó, phần 14.169 quy định về các yêu cầu, trình độ đối với nhân viên hàng không “trình độ cao” bao gồm: Thành viên tổ lái (phi công); nhân viên bảo dưỡng, sửa chữa tàu bay và thiết bị tàu bay có chứng chỉ CRS mức B trở lên đã có sự vi phạm nghiêm trọng Luật Lao động, cụ thể:

Tại mục 3.b. Chấm dứt hợp đồng lao động, quy định:

“1. Nhân viên hàng không trình độ cao có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn, nhưng phải thông báo bằng văn bản cho Người khai thác tàu bay, tổ chức bảo dưỡng tàu bay ít nhất 120 ngày trước ngày dự kiến chấm dứt hợp đồng lao động để Người khai thác tàu bay lập kế hoạch duy trì hoạt động bảo đảm khai thác tàu bay theo kế hoạch bay đã được phê duyệt.

2. Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 điểm này nếu kết thúc vào tháng 6, tháng 7 của năm thì hợp đồng lao động sẽ kéo dài đến hết tháng 7 của năm đó. Trường hợp thời hạn kết thúc của hợp đồng vào tháng 1 hoặc tháng 2 của năm thì hợp đồng lao động sẽ kéo dài đến hết tháng 2 của năm đó.”

Trong khi đó, Khoản 3 Điều 27, Bộ luật Lao động quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động, nêu rõ: “ Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày”.

Như vậy, rõ ràng quy định nêu trên trong Thông tư 21/2017 của Bộ GTVT ban hành ngày 30/06/2017, đang trái với Luật Lao động.

Việc không cho người lao động được thực hiện các quyền và hưởng các lợi ích hợp pháp của họ sẽ khiến cho Người lao động chán nản và khó kiểm soát hành vi (nhân viên hàng không trình độ cao - loại lao động đặc thù). Điều này sẽ gây nguy hiểm đối với an toàn bay, nhà quản lý ban hành văn bản cần phải xem xét từ nhiều khía cạnh, không thể dùng ý chí của người sử dụng lao động áp đặt cho nhân viên.

Như vậy, việc ban hành Thông tư số: 21/2017/TT-BGTVT ngày 30/06/2017 quy định chung một thời hạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động 120 ngày là trái quy định của Luật Lao động nên cần phải hủy bỏ để tránh mọi khiếu kiện hoặc tiền lệ xấu cho các luật khác “cơ hội gặm nhấm” Luật lao động. Qua đó tránh việc các ngành lạm dụng tính đặc thù để tước bỏ, gây cản trở người lao động thực hiện các quyền lợi của họ, cũng như bảo vệ tính toàn vẹn của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

cùng chuyên mục
Kéo xuống để xem tiếp nội dung
Xem thêm trên infonet