Sống chung không hôn thú, chồng hờ bắt mất con

Vì tin vào lời hứa, trong một lần giao con cho “chồng hờ” chăm sóc, con chị T. đã bị mang đi, thậm chí chị còn bị tố ngược không phải là mẹ đứa trẻ…

Vì tin vào lời hứa sẽ sống chung và cùng nhau chăm sóc con, chị Lê Thị H.T (SN 1965, Hà Đông, HN) đã sinh một bé trai với anh Hoàng N.S (SN 1960, trú tại quận Hai Bà Trưng, HN). Thế nhưng, trong một lần giao con cho “chồng hờ” chăm sóc, con chị đã bị mang đi, thậm chí chị còn bị tố ngược không phải là mẹ đứa trẻ…

Cuộc chiến giành con

Theo đơn gửi đến báo Phụ nữ Thủ đô, chị Lê Thị H.T và anh Hoàng N.S có quan hệ tình cảm với nhau từ năm 2010 và chung sống với nhau như vợ chồng. Theo lời kể của chị T, anh S lấy vợ và hiện đã ly hôn, có 2 con gái. Thế nhưng, trong thời gian qua lại với chị T, anh S vẫn ở với vợ cũ. Anh S giải thích rằng, do sợ mất danh tiếng, ảnh hưởng đến công việc hiện tại nên anh không thể công khai mối quan hệ giữa anh và chị T. Vì muốn có một đứa con trai để nối dõi, anh S đã bàn với chị T “cố” sinh thêm một cậu con trai nữa (trước đó chị T đã có con gái riêng). Anh Hoàng N.S hứa sẽ bù đắp và chăm sóc cho mẹ con chị suốt đời, đồng thời khẳng định sau khi nghỉ hưu sẽ cùng chung sống với chị T và chăm sóc con.

Tin vào lời hứa, nên dù phải chạy chữa, điều trị rất tốn kém, cuối cùng, chị cũng sinh được cháu H.N.P vào ngày 14/7/2013. Sau khi sinh, chị T làm giấy chứng sinh cho cháu P tại Bệnh viện Phụ sản TW, làm giấy khai sinh do chị là mẹ đẻ và anh S là cha ruột của cháu bé tại UBND phường Hoàng Văn Thụ (Q.Hoàng Mai, HN - nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của chị T).

 Sống chung không hôn thú, chồng hờ bắt mất con - ảnh 1
Chị Lê Thị H.T đang trình bày sự việc

Chị T kể, ngay sau khi sinh, anh S đã không hề phụ giúp chị chăm sóc, chia sẻ khó khăn, vất vả nuôi con mà còn khiến cho cuộc sống xảy ra xích mích. Có lần, anh S còn nói sẽ đưa mẹ ruột của anh về đón cháu bé đi, nhưng chị T không đồng ý. Tối 20/5/2014, chị T về quê giỗ cha ở TP Sơn La, giao con cho anh S và mẹ đẻ anh S chăm sóc. Lợi dụng lúc chị T đi vắng, anh S đã lục soát đồ đạc trong nhà, phi tang các vật dụng, xóa dữ liệu thông tin liên quan đến anh S và cháu bé trên máy tính, sau đó thu dọn đồ đạc, quần áo… của cháu T mang đi. Đến khi con gái riêng của chị về và phát hiện ra sự việc, chị T tìm cách gọi điện cho anh S nhưng không thể liên lạc được.

Chị T đã làm đơn gửi cơ quan cảnh sát hình sự đề nghị làm làm rõ sự việc. Ngày 5/6, chị T được cơ quan điều tra triệu tập nhận diện cháu bé. Chị xác nhận, cháu bé mà anh S đang giữ là con của chị. Tuy nhiên, anh S cho rằng, chị không phải là mẹ của cháu bé mà còn có biểu hiện ngược đãi cháu. Ngay sau đó, cơ quan điều tra đã đi xác minh sự việc và thông báo chị T vẫn chưa đủ căn cứ để xác nhận cháu bé là con ruột của mình. Đồng thời, trong quá trình điều tra, cháu bé sẽ tạm giao cho anh S trông nom, chăm sóc, chị T được phép đi thăm cháu. Song, mỗi lần chị T đến địa chỉ được ghi trong bản cam kết để thăm con thì anh S đều nói cháu không có ở nhà, khiến chị không thể tiếp xúc với con. “Từ khi cháu bị anh S bắt đến nay, tôi mới gặp con một lần ở cơ quan điều tra. Tôi rất mong sự việc nhanh chóng được làm rõ. Còn hiện tại, tôi muốn được thăm con theo đúng tinh thần bản cam kết” – chị T cho biết.

Cần có đủ bằng chứng

Theo luật sư Nguyễn Tiến Trung (GĐ Công ty Luật TNHH Trung Nguyễn, Đoàn luật sư TP Hà Nội): Điều 64 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu tòa án xác định người đó là con mình”. Nếu trong trường hợp cần thiết thì phải giám định gen.

Luật sư Trung tư vấn trong trường hợp này, chị T cần làm thủ tục khởi kiện ra tòa. Trong hồ sơ khởi kiện, ngoài việc trình bày rõ toàn bộ sự việc (quá trình chị sống với anh S, cháu bé được ra đời trong hoàn cảnh nào, thỏa thuận của anh chị về chăm sóc, nuôi dưỡng cháu bé…), chị cần đến cơ quan công an xin biên bản về buổi làm việc do công an triệu tập, trong đó có ghi ý kiến của chị, của anh S và những thông tin khác chứng tỏ anh S hiện là người đang giữ cháu P. Đồng thời, chị phải nộp các bằng chứng để chứng minh chị là mẹ đẻ của cháu.

Khi có đủ những giấy tờ cần thiết, tòa sẽ thụ lý giải quyết vụ án. Nếu chị thật sự là mẹ của cháu P, có nhân thân tốt, có điều kiện chăm sóc tốt cho cháu bé cả về thể chất và tinh thần, tòa sẽ căn cứ khoản 2, điều 92, Luật Hôn nhân và Gia đình: “về nguyên tắc, con dưới 3 tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng” để xem xét. Khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, nếu anh S vẫn cố tình không trả con cho chị thì anh S sẽ bị xem xét xử lý hình sự theo Điều 304 (Luật Hình Sự) – Tội không chấp hành bản án, quyết định của tòa và sẽ phải đối mặt với khung hình phạt tới 3 năm tù.

Theo Phụ nữ thủ đô

TIN LIÊN QUAN
Tin cùng chuyên mục
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Đọc nhiều