Sử dụng phân bón nano trên cây đỗ tương đen mang lại hiệu quả cao (P3)

Kết quả thử nghiệm hơn một năm qua tại HTX Trường Xuân (Nam Định) cho thấy ảnh hưởng của phân bón nano tích hợp đến toàn bộ quá trình sinh trưởng, phát triển của cây đỗ tương đen rất rõ rệt. Quá trình này được nhóm nghiên cứu ghi lại một cách tỉ mỉ, khoa học.

Sử dụng phân nano, cây đỗ tương đen sinh trưởng và ra quả tốt hơn

Ảnh hưởng đến chỉ số diện tích lá (m2 lá/m2 đất)

Chỉ số diện tích lá nói lên khả năng che phủ của cây. Trong điều kiện trồng với mật độ, chế độ phân bón và điều kiện ngoại cảnh thích hợp, thân lá phát triển mạnh, tạo tiền đề để tăng năng suất.

Chỉ số diện tích lá hợp lý, quang hợp thuận lợi, năng suất đỗ tương đen sẽ tăng. Chỉ số diện tích lá được tính bằng tích của diện tích lá và mật độ của cây, vì vậy nó không những phụ thuộc vào sự phát triển của bộ lá mà còn phụ thuộc vào mật độ của cây trên ô thí nghiệm.

Số liệu về diện tích lá thu được ở 3 thời kỳ là thời kỳ bắt đầu ra hoa, thời kỳ ra hoa và thời kỳ quả mẩy, đây là ba mốc quan trọng nhất trong giai đoạn sinh trưởng sinh thực của cây đỗ tương đen.

Đối với cây đỗ tương đen được sử dụng phân bón nano, diện tích lá ở thời kỳ bắt đầu ra hoa là 2,15 m2 lá/m2 đất, tăng dần qua thời kỳ sinh trưởng, đến thời kỳ quả mẩy diện tích lá đạt 4,12 m2 lá/m2 đất.

So với nhóm đối chứng, diện tích lá ở nhóm sử dụng phân bón nano tích hợp cao hơn và tốc độ phát triển cũng nhanh hơn. Ở nhóm đối chứng, vào thời kỳ bắt đầu ra hoa, diện tích lá là 1,74 m2 lá/m2 đất, ở thời kỳ hoa rộ là 2,42 m2 lá/m2 đất và đến thời kỳ quả mẩy là 3,55 m2 lá/m2 đất.

So sánh với kết quả ở phần 4.3.1 và 4.3.2 cũng nhận thấy, với công thức phân bón nano tích hợp phát triển nhanh về chiều cao và diện tích lá thì khả năng tích lũy chất khô cũng tăng cao. Sự phát triển mạnh mẽ của thân và lá cũng tạo tiền đề cho việc tăng năng suất hạt.

Lá là bộ máy quang hợp tạo ra năng suất của cây đỗ tương đen. Số lá nhiều và to khỏe nhất là vào thời kỳ đang ra hoa rộ. Khi phiến lá phát triển to, rộng, mỏng, phẳng và có màu xanh tươi là biểu hiện cây sinh trưởng khỏe có khả năng cho năng suất cao.

Diện tích lá mang ý nghĩa quan trọng vì nó liên quan trực tiếp với năng suất hạt. Diện tích lá của cây đỗ tương đen được sử dụng phân bón nano tích hợp có xu hướng gia tăng do lá phát triển mạnh, giúp cây tăng cường khả năng quang hợp, đây là yếu tố quan trọng tạo tiền đề cho năng suất cây sau này.

Ảnh hưởng đến khả năng hình thành nốt sần (nốt/cây) của cây

Một vai trò tích cực của cây đậu tương là khả năng cố định nitơ phân tử (N2) cây không sử dụng được thành dạng đạm sử dụng được nhờ vi khuẩn nốt sần (Rhizobium) ở rễ. Thông qua đó, cây chủ sẽ lấy nguồn đạm vô cơ sinh học quan trọng cho sinh trưởng phát triển, ngược lại vi khuẩn sẽ có được các nguồn hydrat carbon (đường, tinh bột) cho hoạt động sống.

Số nốt sần trên cây đỗ tương cũng được đánh giá trong cả 3 thời kỳ: Là thời kỳ bắt đầu ra hoa, thời kỳ ra hoa và thời kỳ quả mẩy.

Số nốt sần trung bình trên cây ở nhóm sử dụng phân bón nano tích hợp qua cả 3 thời kỳ (9,5 – 14,0 nốt/cây) cao hơn nhóm đối chứng (8,6 – 12,2 nốt/cây). Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

Ảnh hưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất của cây đỗ tương đen

Khi áp dụng bất kỳ một hình thức tác động tiên tiến nào lên hạt giống thì mục tiêu đặt ra cuối cùng đó là tăng năng suất và chất lượng của sản phẩm.

Đối với cây đỗ tương đen các yếu tố cấu thành năng suất như số quả/cây, khối lượng 1000 hạt, tỉ lệ quả chắc, tỉ lệ quả 3 hạt có mối tương quan thuận chặt chẽ với năng suất, phụ thuộc vào bản chất di truyền của giống, điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật canh tác.

Ảnh hưởng của phân bón nano tích hợp tới một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của đỗ tương đen được tổng hợp và trình bày ở bảng 13.

Các yếu tố cấu thành năng suất được đánh giá gồm số quả chắc/cây; Tỉ lệ quả chắc, tỉ lệ quả 3 hạt; Khối lượng 1000 hạt và năng suất thực thu của cây đỗ tương đen.

Tổng số quả trên cây: So với nhóm đối chứng, cây đỗ tương đen được sử dụng phân bón nano tích hợp đậu quả nhiều hơn với số quả trung bình trên cây là 126,5 quả/cây; Ở nhóm đối chứng tương ứng là 122,38 quả/cây.

Số quả chắc trên cây: Nhóm được xử lý bằng phân bón nano tích hợp đạt số quả chắc trên cây là 88,3%, cao hơn so với nhóm đối chứng 80,0%. Cây có tỷ lệ quả chắc cao chứng tỏ khả năng thụ phấn của cây tốt hơn.

Tỷ lệ quả 3 hạt ở nhóm được xử lý bằng phân bón nano tích hợp (28,4%) cao hơn nhóm đối chứng (19,2%). Cây có tỷ lệ quả 3 hạt cao sẽ có tiềm năng đạt năng suất lớn hơn.

Khối lượng 1000 hạt chủ yếu do giống quy định, nhưng dinh dưỡng cũng ảnh hưởng đến quá trình tích lũy vật chất khô trong hạt, làm khối lượng 1000 hạt thay đổi. Bảng 5 cho thấy khối lượng 1000 hạt ở nhóm sử dụng phân bón nano tích hợp (740,34g) cao hơn nhóm đối chứng (670,81g).

Năng suất: Năng suất thực thu là yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất và liên quan tới hiệu quả kinh tế sản xuất. Năng suất thực thu của nhóm sử dụng phân bón nano tích hợp (26,5 tạ/ha) cao hơn so với nhóm đối chứng (24,1 tạ/ha).

(còn nữa)

TIN LIÊN QUAN
Phan Kế Sơn
loading...
Loading...
Tin cùng chuyên mục
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Đọc nhiều