Thanh Hóa: Nan giải vấn đề tái định cư cho dân vùng thủy điện

Việc khảo sát quy hoạch, đầu tư xây dựng các khu tái định cư (TĐC) và tình hình đời sống, sinh kế của người dân sau TĐC bị ảnh hưởng bởi các công trình thủy điện ở miền núi đang được tỉnh Thanh Hóa triển khai thực hiện.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa được Bộ Công thương quy hoạch 22 thủy điện lớn, nhỏ

Quy hoạch nhiều nhà máy thủy điện

Theo báo cáo của UBND tỉnh hiện nay trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có 2 quy hoạch thủy điện của Bộ Công thương phê duyệt, đó là quy hoạch thủy điện bậc thang sông Mã và quy hoạch thủy điện nhỏ, gồm 22 dự án với tổng công suất 832MW.

Trong đó, trên sông Mã có 7 dự án gồm: thủy điện Trung Sơn; Thành Sơn, Hồi Xuân; Bá Thước 1; Bá Thước 2; Cẩm Thủy 1; Cẩm Thủy 2. Trên sông Chu có 4 thủy điện gồm: Cửa Đặt; Xuân Minh; Bái Thượng; Dốc Cáy.

Ngoài ra trên các sông suối khác bao gồm sông Lò có 3 dự án thủy điện Trung Xuân, Sơn Lư, Tam Thanh; tuyến sông Luồng có 5 dự án gồm thủy điện Bản Khà, Mường Mìn, Sơn Điện, Nam Động 1, Nam Động 2; tuyến sông Âm có 1 dự án thủy điện sông Âm; tuyến sông Khao có 1 dự án; tuyến suối Hối có 1 thủy điện Trí Nang.

Trong 22 dự án được quy hoạch thì hiện nay đã có 13 dự án đã được triển khai đầu tư, bao gồm 6 dự án đã hoàn thiện và phát điện, 7 dự án đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng.

Theo quy hoạch đến nay đã có 4 thủy điện Trung Sơn, Hồi Xuân, Bá Thước 1, Bá Thước 2 là phải bố trí di dân TĐC tập trung, các dự án còn lại do số lượng di dân không nhiều, nên hộ dân tự di chuyển hoặc bố trí xen ghép; các huyện bố trí TĐC bao gồm Mường Lát, Quan Hóa, Bá Thước. Qua đó, các địa phương đã có phương án quy hoạch, xây dựng 6 khu, 13 điểm TĐC tập trung tại 7 xã của 3 huyện.

Bên cạnh đó tổng diện tích đất bị ảnh hưởng đã thu hồi và bồi thường khi quy hoạch thủy điện là 1.849,3 ha. Trong đó, đất ở là 21,0 ha, đất nông nghiệp 495,6 ha, đất khác 74 ha, đất lâm nghiệp 1.259,6 ha. Tổng diện tích đất TĐC 75,5 ha với tổng số hộ phải di chuyển 930 hộ (432 hộ dân TĐC tập trung) chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa.

Bố trí TĐC chưa hợp lý

Sau khi được phê duyệt chủ trương xây dựng các nhà máy thủy điện thì công tác kiểm kê, đền bù về nhà ở và tài sản được các cấp, các ngành quan tâm cũng như việc bố trí TĐC cho các hộ dân phải di dời được chú trọng.

Tuy nhiên việc bố trí, quy hoạch các khu, điểm TĐC chưa tính hết các yếu tố sinh kế bền vững (mới chỉ thủy điện Trung Sơn là có dự án sinh kế sau TĐC cho các hộ dân), quan tâm chưa nhiều đến phong tục, tập quán sản xuất, sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số, quy hoạch chưa hợp lý, bố trí nơi ở trên đỉnh núi cao, mặt bằng không đều (chỗ cao, chỗ thấp), xa nơi canh tác, thiếu nguồn nước sinh hoạt, chất lượng đất kém, nguy cơ sạt lở cao như khu TĐC Keo Đắm (huyện Quan Hóa), bản Lìn, xã Trung Lý (huyện Mường Lát).

Bên cạnh đó, việc lựa chọn bố trí khu, điểm TĐC ở một số nơi chưa phù hợp để xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được sự phát triển bền vững và xây dựng chương trình xây dựng nông thôn mới; tiến độ xây dựng TĐC quá chậm như thủy điện Hồi Xuân, triển khai xây dựng TĐC Sa Lắng đến nay gần 10 năm nhưng chưa thể bàn giao mặt bằng; một số công trình đầu tư không được khảo sát, thiết kế chưa phù hợp với địa hình, địa chất, giám sát thiếu chặt chẽ nên chất lượng công trình hiệu quả thấp, gây bức xúc trong nhân dân như công trình nước sinh hoạt ở bản Nàng 1, xã Mường Lý; bản Keo Đắm, Co Pùng, xã Trung Sơn.

Việc bố trí tái định cư cho nhân dân vùng thủy điện còn nhiều khó khăn, bất cập

Ngoài ra, việc xây dựng nhà cho đồng bào dân tộc thiểu số không phù hợp (xây dựng như nhà ở dân cư đô thị), không phù hợp với phong tục, tập quán; đất đai cằn cỗi, độ dốc lớn; thiếu đất canh tác và nước tưới, nên việc bảo vệ môi trường và tổ chức sản xuất là hết sức khó khăn.

Không chỉ vậy việc khảo sát, đánh giá mức độ, phạm vi ảnh hưởng của một số dự án thủy điện chưa chính xác, đề xuất quy hoạch, bố trí dân cư chưa phù hợp, thiếu tính bền vững. Đa số các công trình xây dựng hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng nhưng chưa có quy chế quản lý, khai thác, bảo trì, bảo dưỡng, vệ sinh môi trường kém nên nhanh hư hỏng, xuống cấp...

Việc kiểm kê, áp giá, đền bù giải phóng mặt bằng, lập, thẩm định và phê duyệt các phương án bồi thường, hỗ trợ TĐC còn hạn chế, có nơi kiểm kê còn để xảy ra sai sót trong việc kiểm đếm, đánh giá mức thiệt hại. Bên cạnh đó, việc thực hiện chính sách đền bù TĐC còn nhiều bất cập, có sự thiếu công bằng, gây khó khăn....

Công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương chính sách về di dân TĐC ở một số điểm chưa được đúng mức, đồng bào chưa thực sự hiểu hết các chính sách, định mức, hình thức đền bù, hỗ trợ dẫn đến việc người dân thắc mắc....

TIN LIÊN QUAN
Trần Nghị
loading...
Loading...
Tin cùng chuyên mục
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Đọc nhiều