Tình hình thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới

Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 được Thủ tướng Chính phủ ban hành với 7 mục tiêu và 22 chỉ tiêu cụ thể về bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 là nhằm cụ thể hóa mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới theo quy định của Điều 4 Luật Bình đẳng giới.

Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia các cấp uỷ Đảng nhiệm kỳ 2015 - 2020 từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021 trên 35%.

Việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu của Chiến lược như sau:

Mục tiêu “Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị”. Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia các cấp uỷ Đảng nhiệm kỳ 2015 - 2020 từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021 trên 35%.

Kết quả bầu cử Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015 – 2020 cho thấy, Đảng bộ, chi bộ cơ sở: Tỷ lệ cấp ủy viên là nữ chiếm 19,69% (tăng 1,59% so với nhiệm kỳ trước); tỷ lệ nữ Bí thư là 8,0% (tăng 1,8% so với nhiệm kỳ trước); Đảng bộ cấp huyện và tương đương: Tỷ lệ cấp ủy viên là nữ chiếm 14,3% (tăng 0,3% so với nhiệm kỳ trước); tỷ lệ nữ Bí thư là 7,4% (tăng 2,6% so với nhiệm kỳ trước); Đảng bộ trực thuộc Trung ương: Tỷ lệ cấp ủy viên là nữ chiếm 13,3% (tăng 1,9% so với nhiệm kỳ trước); Tỷ lệ nữ Bí thư là 6,3% (tăng 3,1% so với nhiệm kỳ trước).

Như vậy tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy tại cả 3 cấp cơ sở, huyện, tỉnh mặc dù có tăng hơn nhiệm kỳ trước, nhưng không đạt tỷ lệ 25% đề ra.

Kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021 đạt được như sau: Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV là 26,72%, tăng 2,62% so với nhiệm kỳ trước. Tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016 - 2021 cấp tỉnh đạt 26,54% (tăng 1,37%); cấp huyện đạt 27,85% (tăng 3,23%) và cấp xã đạt 26,59% (tăng 4,88%).

Như vậy, sau 2 khóa Quốc hội (XII và XIII) có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội liên tục giảm, nhiệm kỳ này (2016 - 2021) đã bắt đầu có sự tăng trở lại.

Đây cũng là nhiệm kỳ có tỷ lệ nữ ứng cử viên sau vòng hiệp thương 3 cao nhất so với một số nhiệm kỳ gần đây, đạt 38,79%. Một số địa phương có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao là Bắc Kạn đạt 66,67%, Bắc Giang đạt 62,5% và Quảng Ngãi đạt 57,14%.

Tuy nhiên, mặc dù Luật bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đã quy định về việc bảo đảm có ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ, nhưng trong đợt bầu cử vừa qua, có tới 23 địa phương chưa bố trí đủ số nữ ứng cử viên trong danh sách bầu cử đại biểu Quốc hội theo quy định của Luật và 3 tỉnh Quảng Nam, Tây Ninh, Thừa Thiên Huế (riêng Tây Ninh, Thừa Thiên Huế cả 02 nhiệm kỳ XIII và XIV) không có nữ đại biểu Quốc hội.

Hiện chưa có chế tài xử lý đối với những đơn vị không tuân thủ nghiêm quy định của Luật cũng như đảm bảo sự tham gia của phụ nữ trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp các nhiệm kỳ tiếp theo, nhất là với một số địa phương trong nhiều nhiệm kỳ liên tiếp không có nữ đại biểu Quốc hội hoặc có tỷ lệ nữ tham gia cơ quan dân cử với tỷ lệ rất thấp.

Đối với chỉ tiêu 2, phấn đấu đến năm 2020 đạt 95% Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ. Tính đến hết tháng 8 năm 2017, có 12/30 Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có nữ cán bộ đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo chủ chốt, gồm: 10/22 Bộ, cơ quan ngang Bộ (Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Ngoại giao, Ngân hàng Nhà nước) và 02/08 cơ quan thuộc Chính phủ Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, đạt tỷ lệ 40% (giảm 7% so với năm 2015). Ở cấp tỉnh, có 16/63 địa phương có nữ lãnh đạo chủ chốt (gồm 01 địa phương có nữ giữ chức danh Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và 15 địa phương có nữ giữ chức danh Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh), chiếm tỷ lệ 25,39%.

Ở cấp huyện, một số địa phương có tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý cấp huyện cao từ 20% trở lên như: Bình Dương (24,24%), thành phố Hồ Chí Minh (22,45%), Ninh Bình (20,69%). Các tỉnh Cà Mau, Bình Thuận, Bình Định không có nữ lãnh đạo, quản lý ở cấp này (Báo cáo số 4949/BC-BNV ngày 20/10/2016 của Bộ Nội vụ về số liệu nữ lãnh đạo quản lý chính quyền các cấp cuối nhiệm kỳ 2011 – 2016).

Một số địa phương có tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý cấp xã cao là thành phố Hồ Chí Minh (chiếm 32,18%), thành phố Đà Nẵng (25,79%), Bình Dương (25,40%), Đồng Nai (24,8%). Nhiều tỉnh, thành phố có tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý cấp xã dưới 5%, trong đó phần lớn là các tỉnh, thành phố miền Bắc.

Như vậy so với yêu cầu đạt tỷ lệ 95% vào năm 2020 còn khoảng cách lớn và khó có khả năng thực hiện chỉ tiêu này tại cấp địa phương. Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo tiến hành đánh giá thực trạng, thực chất vấn đề này để đề xuất các giải pháp thúc đẩy việc thực hiện chỉ tiêu.

Đối với chỉ tiêu 3, phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội có lãnh đạo chủ chốt là nữ nếu ở cơ quan, tổ chức có tỷ lệ 30% trở lên nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động

Việc thu thập số liệu chỉ tiêu này hiện đang gặp nhiều khó khăn, chưa có cơ quan được giao chủ trì thực hiện thống kê số liệu về “cơ quan, tổ chức có tỷ lệ 30% trở lên nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động”, do đó không thu thập được số liệu này.

Nguyễn Tuân
Tin cùng chuyên mục
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Đọc nhiều